vanban.org

Bản án 115/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 04/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Thạch Ngọc B phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Thạch Ngọc B 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2018. Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Thạch Ngọc B phải nộp là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch Ngọc B phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 115/2018/HSST
Ngày: 04/7/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc;

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.

2. Bà Nguyễn Phước Trinh;

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 78/2018/TLHS-ST ngày 16 tháng 05 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thạch Ngọc B, sinh năm 1994; giới tính: nam; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; tạm trú: ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: công nhân; con ông Thạch Ngọc H và bà Lê Thị Ánh N; anh chị em ruột gồm có 03 người kể cả bị cáo; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 04/02/2018 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1998 (vắng mặt)

HKTT: Thôn 1, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Thạch Ngọc B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chi Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 04/02/2018, Thạch Ngọc B từ phòng trọ tại ấp Bàu Tre 2, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi đi bộ ra đường phía trước nhà trọ, khi đi ngang trước cửa quán tạp hóa “Quỳnh Ngọc” tại số 13 đường Lê Thị Diệt, ấp Bàu Tre 2, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi thì phát hiện Nguyễn Thị Hồng N đang ngồi ghế đá phía trước và quay mặt vào trong quán tạp hóa, trên hai tay chị N cầm 01 điện thoại hiệu OPPO A37fw màu hồng vàng. B nảy sinh ý định cướp giật điện thoại của chị N. B đi bộ đến chỗ chị N đang ngồi, đứng sát phía sau lưng chị N, dùng tay trái giật điện thoại của chị N rồi bỏ chạy bộ tẩu thoát, chị N truy hô. B chạy được khoảng 100m thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Theo Kết luận ngày 07/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A37fw có giá trị là 2.000.000đ (hai triệu đồng).

Về vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37fw, cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Hồng N.

Về phần dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Hồng N đã nhận lại điện thoại di động và không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số: 69/CTr-VKS ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Thạch Ngọc B về tội: “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thạch Ngọc B mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Về vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37fw, cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Hồng N nên không xét.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Hồng N đã nhận lại điện thoại di động và không yêu cầu bồi thường nên không xét.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Thạch Ngọc B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khai rằng: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 04/02/2018, khi bị cáo B đi bộ ngang trước cửa quán tạp hóa “Quỳnh Ngọc” tại số 13 đường Lê Thị Diệt, ấp Bàu Tre 2, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi thì phát hiện chị Nguyễn Thị Hồng N đang ngồi ghế đá phía trước và quay mặt vào trong quán tạp hóa, trên hai tay chị N cầm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37fw màu hồng vàng. Bị cáo B nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đi bộ đến chỗ chị N đang ngồi, đứng sát phía sau lưng chị N, dùng tay trái giật điện thoại của chị N rồi bỏ chạy bộ tẩu thoát, chị N truy hô. Bị cáo B chạy được khoảng 100m thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Lời khai nhận tội của bị cáo B phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản ghi lời khai người bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa.

Theo Kết luận ngày 07/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thì chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A37fw có giá trị là 2.000.000đ (hai triệu đồng).

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 04/02/2018, tại số nhà 13 đường Lê Thị Diệt, ấp Bàu Tre 2, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, bị cáo Thạch Ngọc B đã có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37fw của chị Nguyễn Thị Hồng N có giá trị là 2.000.000đ (hai triệu đồng).

Bằng hành vi trên, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Thạch Ngọc B phạm tội: “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự, đúng như Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố.

Hành vi của bị cáo B gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, làm mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là phạm pháp nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để phát huy tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; thiệt hại gây ra không lớn; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Thị Hồng N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

Về vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37fw đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên Hội đồng xét xử không xét.

Xét cần buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Thạch Ngọc B phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Thạch Ngọc B 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2018.

2. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Thạch Ngọc B phải nộp là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

3. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ