vanban.org

Bản án 115/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh N được ly hôn anh Bùi Văn T.

Về con chung: Giao chị Nguyễn Thanh N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Nguyễn Kỳ A, sinh ngày 17-8-2015.. Ghi nhận chị Nguyễn Thanh N không yêu cầu anh Bùi Văn T cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Châu L - Trần Văn N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh N được ly hôn anh Bùi Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH
——————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:108/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 29-10-2018.
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nghện.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Minh Lý;

Ông Cao Hoài Hiêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Sự là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Lớn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 295/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2018 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh N, sinh năm 1993;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 05, ấp LC, xã LH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh;

Nơi tạm trú: Đường GT, ấp GT, xã GL, huyện TB, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

- Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1990;

Địa chỉ cư trú: Tổ 05, ấp LC, xã LH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 3 năm 2018 của nguyên đơn - chị Nguyễn Thanh N và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị N trình bày:

Chị và anh Bùi Văn T chung sống với nhau vào ngày 20-01-2014, có đăng ký kết hôn ngày 21-01-2014 tại Ủy ban nhân dân xã LH, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị và anh T chung sống hạnh phúc đến tháng 4 năm 2017 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: Do tính tình không hợp, anh T ham mê cờ bạc, nhậu nhẹt say sưa, không quan tâm đến cuộc sống của vợ con. Chị N khuyên can nhiều lần anh T không nghe, vợ chồng thường gây gỗ nhau. Chị bỏ về nhà cha mẹ ruột từ tháng 4 năm 2017, vợ chồng ly thân từ đó đến nay.

Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Bùi Nguyễn Kỳ A, sinh ngày 17-8-2015. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 06 tháng 6 năm 2018, bị đơn - anh Bùi Văn T trình bày:

Anh thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thanh N về thời gian chung sống, việc đăng ký kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, thời gian ly thân, con chung, tài sản chung, nợ chung.

Nay anh yêu cầu đoàn tụ với chị N. Nếu Tòa án xét xử cho ly hôn thì:

Về con chung: Chị N giao anh nuôi dưỡng cháu Bùi Nguyễn Kỳ A, anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của về việc xét xử sơ thẩm.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng:

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thanh N đối với anh Bùi Văn T.

Về con chung: Giao cháu Bùi Nguyễn Kỳ A sinh ngày 17-8-2015 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Bị đơn anh T vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Về hôn nhân: Chị N và anh T chung sống với nhau vào ngày 20-01-2014, có đăng ký kết hôn vào ngày 21-01-2014 tại Ủy ban nhân dân xã LH, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh

Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thanh N và anh Bùi văn T là hợp pháp. Quá trình chung sống do hai bên bất đồng về quan điểm sống, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nên dẫn đến mâu thuẫn.

Xét thấy, tình trạng vợ chồng giữa chị N và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh T.

Về con chung: Tại phiên tòa hôm nay, chị N yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Bùi Nguyễn Kỳ A, sinh ngày 17-8-2015, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản lấy lời khai ngày 06-6-2018, anh T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, chị N đang có nghề nghiệp ổn định, cháu Kỳ A cần phải có sự trông nom, chăm sóc của cha mẹ. Việc giao con cho ai nuôi phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Chị N có khả năng đảm bảo tốt về mọi mặt cho sự phát triển của cháu Kỳ A.

Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cháu Bùi Nguyễn Kỳ A, sinh ngày 17-8-2015 cho chị N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó chị N phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án về chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh T. Về con chung: Giao chị N được tiếp tục nuôi cháu Bùi Nguyễn Kỳ A, sinh ngày 17-8-2015.

Ghi nhận chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh N được ly hôn anh Bùi Văn T.

2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thanh N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Nguyễn Kỳ A, sinh ngày 17-8-2015..

Ghi nhận chị Nguyễn Thanh N không yêu cầu anh Bùi Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Anh Bùi văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thanh N và anh Bùi Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 00016058 ngày 05-6-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng; chị Nguyễn Thanh N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú.

Cỡ chữ