vanban.org

Bản án 115/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 24/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố : Các bị cáo Đặng Công H, Lê Quang X, Nguyễn Công H phạm tội " Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: Đặng Công H 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 24/11/2017. Giao bị cáo Đặng Công H cho Ủy ban nhân dân phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Công H cùng đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố : Các bị cáo Đặng Công H, Lê Quang X, Nguyễn Công H phạm tội " Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự; Luật Thi hành tạm giữ
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG
—————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2017/HSST
Ngày: 24-11-2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S-TP. ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Thy Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Ngô Văn Dũng- Nghề nghiệp và nơi công tác: Hưu trí.

2.Ông Hà Đồng Tịnh- Nghề nghiệp và nơi công tác: Quận Đoàn Sơn Trà.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hƣơng Trà – là Thư ký Tòa án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng: Bà Đinh Thị Mân- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 104/2017/HSST ngày 9 tháng 10 năm 2017. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2017/HSST-QĐ ngày 12 tháng 10 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. ĐẶNG CÔNG H; Tên gọi khác: Hợi heo

Sinh năm 1983 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký HKTT: Tổ 66 phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng; Chổ ở hiện nay: Phòng 110, Chung cư A3, phường T, quận S, Tp Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn 6/12; Con ông Đặng Công L (chết) và con bà Mai Thị H (Mai Thị Q); Gia đình có 5 anh chị em, bị cáo là con thứ tư. Bị cáo có vợ tên Mai Thị N và có hai con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhât sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hịên đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. LÊ QUANG X; Tên gọi khác: không

Sinh năm 1990 tại Quảng Ngãi; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Quang D và con bà Võ Thị Ánh N; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

3. NGUYỄN CÔNG H; Tên gọi khác: Lành;

Sinh năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký HKTT: số 28/13 đường B, phường H, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: số 14 đường S, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông Nguyễn Công D và con bà Nguyễn Thị L ; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai. Bị cáo có vợ tên Đặng Hoàng Diễm T và có một con sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo hiện đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời bào chữa cho bị cáo Đặng Công H: Luật sư Thái Quốc Việt – Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên Trần và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng Có mặt.

* Ngƣời bào chữa cho các bị cáo Lê Quang X, Nguyễn Công H: Lụât sư Nguyễn Hòang Anh- Văn phòng Luật sư Đỗ Pháp thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

*Ngƣời bị hại: Anh Nguyễn Thành N, sinh ngày 23/9/2000.

Địa chỉ: tổ 27A phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

* Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại anh Nguyễn Thành N: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1968. Địa chỉ: tổ 27A phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Ông T có mặt, bà H vắng mặt.

* Ngƣời có quyền và nghĩa vụ liên quan:

1.Anh Nguyễn Thành V, sinh năm 1996.

Địa chỉ: tổ 27A phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.

2.Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1998.

Địa chỉ: tổ 8 Thành Vinh, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1994

Nơi ĐKHKTT: Xóm 10 xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

Chỗ ở: 253 Ngô Quyền, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Bà Phạm Thị Minh T, sinh năm 1989

Địa chỉ: tổ 6A phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.

2.Ông Nguyễn Khắc D, sinh năm 1972

Địa chỉ: tổ 5B phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Các bị cáo Đặng Công H, Lê Quang X, Nguyễn Công H bị Viện kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/3/2017, Đặng Công H cùng Nguyễn Công H, Lê Quang X đến hát karaoke tại quán Khanh do chị Phạm Thị Minh T làm chủ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, nhóm H xuống tính tiền ra về thì gặp nhóm thanh niên gồm: Nguyễn Thành N, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thành V và Nguyễn Ngọc T cũng đến quán để hát karaoke. H nói với V “Nhìn cái gì mà nhìn” nên giữa H và nhóm V xảy ra cãi vã, xô xát thì được chị T can ngăn. V, N, T, L lên phòng hát còn nhóm H đứng lại ở quầy tính tiền. Do thiếu tiền trả nên H, X về nhà lấy tiền, H ở lại đợi. V đi xuống lại quầy thu ngân để kêu đồ uống thì gặp H và tiếp tục xảy ra gây gổ, xô xát với H. N, T, L nghe ồn ào cũng đi xuống thì chị T can ngăn bảo nhóm V ra ngoài, khoảng 15- 20 phút sau quay lại hát nên V, T, L, N đi ra. Trong lúc đợi H, X về lấy tiền, H đi về phía nhà ông Nguyễn Khắc D và nói ông D cho mượn 01 con dao vì H bị nhóm thanh niên trong quán Khanh đánh nhưng ông D không cho mượn. H đi ra thấy 01 cây gỗ (dài khoảng 01 mét, mặt cắt ngang khoảng 4-5 cm) để ở trước sân nhà ông D nên H nhặt lấy và cất giấu tại hàng rào nhà ông D rồi quay lại quán karaoke Khanh. Lúc này, N, V, T, L đi trên một xe mô tô đến, H xông đến dùng tay đánh vào mặt V. Cả nhóm gồm N, V, L, T xuống xe đuổi đánh H, H và X vừa quay lại thấy vậy cũng chạy theo. H chạy đến chỗ hàng rào nhà ông D lấy cây gỗ đã giấu sẵn từ trước đánh loạn xạ về phía N, V, T, L. H dùng cây gỗ đánh 01 cái vào đầu, 1 cái vào lưng và 01 cái vào chân trái của V, vừa đánh vừa lùi nên H bị vấp ngã làm cây gỗ bị rơi xuống đất. X xông vào nhặt cây gỗ H làm rơi đánh loạn xạ và trúng vào mặt N làm N ngã xuống, bất tỉnh. T, L xông vào đánh X làm cây gỗ trên tay X bị rơi xuống đất thì H xông vào nhặt cây gỗ lên và tiếp tục đánh V. V, T, L bỏ chạy ra ngoài thì bị H, X và H đuổi theo ra đến đường Trần Nhật Duật thì H, X, H quay về. Khi quay lại, H thấy N nằm dưới đất thì dùng chân đá, đạp khoảng 02- 03 cái vào mặt N. Sau đó, H, H, X đi về. N, V bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 105/TgT ngày 07/4/2017 của Trung tâm pháp y TP Đà Nẵng kết luận: Nguyễn Thành N bị chấn động não, gãy xương chính mũi, tổn thương phần mềm: Mặt trong lỗ ngoài bên phải có 03 vết rách da (nền mũi, vách trên, vách ngoài) đã liền sẹo phẳng, mềm, màu hồng nhạt, kích thước 1.5cm x 0.1cm; 0.8cm x 0.1cm và 01cm x 0.1cm. Vùng chóp mũi lệch nhiều về bên phải có 02 vết xước da. Mẻ múi ngoài hai răng R16, R24.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích (chấn động não, gãy xương mũi, tổn thương phần mềm) gây nên hiện tại là: 12%.

Mẻ răng R16, R24 với tổn thương này tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.

Nguyễn Thành V, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn L bị thương tích nhẹ, từ chối giám định thương tích.

* Tang vật tạm giữ: Không.

* Về bồi thƣờng dân sự:

Đặng Công H, Nguyễn Công H, Lê Quang X đã thoả thuận bồi thường xong cho anh Nguyễn Thành N, gia đình anh N không yêu cầu gì thêm.

Do đó, bản cáo trạng số 79/2017/CT-VKS ngày 07/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Đặng Công H, Lê Quang X, Nguyễn Công H về tội “ Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 104 của Bộ luật Hình sự.

Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa:

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu giữ nguyên cáo trạng đã truy tố các bị cáo và căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với các bị cáo, đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Đặng Công H, Lê Quang X, Nguyễn Công H phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 104; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47 của BLHS, xử phạt Đặng Công H từ 15 đến 21 tháng tù.

Áp dụng khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 104; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47 của BLHS, xử phạt Lê Quang X từ 15 đến 21 tháng tù.

Áp dụng khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 104; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47 của BLHS, xử phạt Nguyễn Công H từ 09 đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường toàn bộ tiền điều trị thương tích cho người bị hại và người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập đến.

Tại phiên tòa hôm nay vị luật sư bào chữa cho bị cáo Đặng Công H thống nhất với bản cáo trạng của VKSND quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng truy tố bị cáo Đặng Công H về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 104 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên đề nghị hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo Đặng Công H phạm tội là do trong qúa trình hát karaoke tại quán Khanh do nhóm của các bị cáo và nhóm người bị hại có mâu thuẩn nhau được chủ quá can ngăn thì sau đó nhóm người bị hại mà cụ thể là anh Nguyễn Ngọc T dùng tay tát vào mặt bị cáo Đặng Công H, do bực tức nên bị cáo mới có hành vi đánh trả nhóm người bị hại, bị cáo phạm tội trong trưởng hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nhóm người bị hại gây ra, tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải của mình, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả đã gây ra cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có mẹ là người có công với cách mạng nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, p, đ khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47, Điều 31 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cụ thể là cho bị cáo mức án 12 tháng cải tạo không giam giữ thể hiện sự khoan hồng của chính sách hình sự Nhà nước để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân tốt cho xã hội.

Bị cáo Đặng Công H thừa nhận hành vi phạm tội của mình là “Cố ý gây thương tích” cho anh Nguyễn Thành N với tỷ lệ thương tích là 14%, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận S khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận S truy tố, Tòa án nhân dân quận S xét xử bị cáo về tội “ Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 104 của BLHS là đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo thực sự ăn năn, hối cải và hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa, mong HĐXX xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án cải tạo không giam giữ để bị cáo có cơ hội sữa chữa những lỗi lầm của mình.

Tại phiên tòa hôm nay vị luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Quang X, Nguyễn Công H thống nhất với bản cáo trạng của VKSND quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng truy tố bị cáo Lê Quang X, Nguyễn Công H về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 104 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên đề nghị hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo Lê Quang X, Nguyễn Công H phạm tội là do trong qúa trình hát karaoke tại quán Khanh do nhóm của các bị cáo và nhóm người bị hại có mâu thuẩn nhau được chủ quá can ngăn thì sau đó nhóm người bị hại mà cụ thể là anh Nguyễn Ngọc T dùng tay tát vào mặt bị cáo Đặng Công H, do bực tức nên bị cáo H mới có hành vi đánh trả nhóm người bị hại, các bị cáo hỗ trợ tiếp sức cho bị cáo H vượt quá phòng vệ chính đáng nên mới gây thương tích cho nhóm người bị hại, các bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nhóm người bị hại gây ra, tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải của mình, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả đã gây ra cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo X có ông nội là liệt sĩ, bà nội tham gia cách mạng được nhà nước tặng thưởng nhiều huân huy chương các loại, đối với bị cáo H đề nghị HĐXX áp dụng thêm tình tiết phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn được quy định tại điểm g khoản 1Điều 46 của BLHS nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, p, đ khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47, Điều 31 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cụ thể là cho các bị các được hưởng mức án cải tạo không giam giữ thể hiện sự khoan hồng của chính sách hình sự Nhà nước để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân tốt cho xã hội.

Bị cáo Lê Quang X thừa nhận hành vi phạm tội của mình là “Cố ý gây thương tích” cho anh Nguyễn Thành N với tỷ lệ thương tích là 14%, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận S khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận S truy tố, Tòa án nhân dân quận S xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích ” theo khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 104 của BLHS là đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo thực sự ăn năn, hối cải và hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa, mong HĐXX xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án cải tạo không giam giữ để bị cáo có cơ hội sữa chữa những lỗi lầm của mình.

Bị cáo Nguyễn Công H thừa nhận hành vi phạm tội của mình là cùng với các bị cáo H, X trực tiếp tham gia đánh nhóm của N gây thương tích, bị cáo có dùng tay chân, cây gỗ đánh vào nhóm của N nhưng không trực tiếp tham gia đánh anh N gây thương tích, hành vi của bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận S khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận S truy tố, Tòa án nhân dân quận S xét xử bị cáo về tội “ Cố ý gây thương tích ” theo khoản 2(điểm a khoản 1) Điều 104 của BLHS là đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo thực sự ăn năn, hối cải và hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa, mong HĐXX xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án cải tạo không giam giữ để bị cáo có cơ hội sữa chữa những lỗi lầm của mình.

Người bị hại anh Nguyễn Thành N nhất trí với ý kiến luận tội của Kiểm sát viên về hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên các bị cáo phạm tội là cũng do một phần lỗi ở người bị hại và nhóm của người bị hại đã có hành vi gây gỗ, dùng tay đánh vào mặt bị cáo H trước. Sau khi vụ án xảy ra các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và người bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa anh N không có yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm và mong muốn HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội sữa chữa những lỗi lầm của mình và tạo điều kiện cho các bị cáo làm việc để nuôi vợ con.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, các bị cáo Đặng Công H, Lê Quang X, Nguyễn Công H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo, xét lời khai nhận tội của các bị cáo thấy phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 17 giờ ngày 03/3/2017, do có mâu thuẩn trong lúc hát karaoke tại quán Khanh do chị Phạm Thị Minh T làm chủ, bị cáo Đặng Công H đã chuẩn bị 01 cây gỗ và cùng với các bị cáo Lê Quang X và Nguyễn Công H dùng cây gỗ, tay chân đánh vào nhóm của anh Nguyễn Thành N, hậu quả gây thương tích cho anh Nguyễn Thành N với tỷ lệ 14%. Hành vi dùng hung khí nguy hiểm là cây gỗ gây thương tích cho anh N với tỷ lệ thương tích 14% của các bị cáo Đặng Công H, Lê Quang X, Nguyễn Công H đã cấu thành tội “ Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 104 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng của Viện Kiểm Sát nhân dân quận S, Tp Đà Nẵng truy tố các bị cáo theo khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 104 của BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, thực hiện với lỗi cố ý, các bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự trị an của xã hội, g©y t©m lý bất ổn trong quÇn chóng nh©n d©n. Các bị cáo hành động bộc phát, không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau trong khi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ là hình thức đồng phạm giản đơn nên Viện kiểm sát nhân dân quận S không truy tố các bị cáo theo tình tiết định khung phạm tội có tổ chức là đúng với tính chất vụ án.

Xét vai trò, nhân thân của từng bị cáo thì thấy: Vai trò chính trong vụ án này thuộc về bị cáo Đặng Công H, giữa nhóm bị cáo và nhóm người bị hại trong lúc hát karaoke tại quán Khanh có xảy ra mâu thuẩn thì Nguyễn Ngọc T có dùng tay đánh bị cáo nhưng được chủ quán can ngăn ra về nhưng bị cáo vẫn có ý định đánh trả thù nên chuẩn bị hung khí là cây gỗ nhằm mục đích khi gặp nhóm của người bị hại thì đánh trả thù và thực tế bị cáo có dùng cây gỗ, dùng tay chân đánh và nhóm người bị hại, cụ thể là gây thương tích cho anh N với tỷ lệ 14%. Do đó, ®èi víi bÞ c¸o Đặng Công H cÇn ph¶i lªn cho bÞ c¸o mét møc ¸n tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Sau khi gây án bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, bị cáo phạm tội trong trưởng hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nhóm người bị hại gây ra, người bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo có mẹ là người có công với cách mạng. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p, đ khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo H trong khi lượng hình.

Đối với bị cáo Lê Quang X, mặc dù bản thân bị cáo H không rủ bị cáo cùng tham gia đánh nhóm người bị hại nhưng khi nhóm người bị hại quay lại quán karaoke để hát thì bị cáo H đã chuẩn bị hung khí là cây gỗ để đánh nhóm của người bị hại thì bị cáo cũng xông vào hưởng ứng, tiếp sức cho bị cáo H. Bị cáo dùng tay, chân đánh nhóm người bị hại, khi bị cáo H bị rơi cây gỗ thì bị cáo nhặt cây gỗ xông vào đánh nhiều cái vào nhóm của người bị hại V, T, N, L mà cụ thể là đánh trúng vào người anh N và thương tích của anh N do bị cáo gây ra là chính. Do vậy, hội đồng xét xử thấy cần phải lên cho bị cáo X một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Sau khi gây án bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, người bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo, người bị hại cũng có một phần lỗi đã gây ra cho bị cáo, bị cáo có ông nội là liệt sĩ, bà nội là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo X trong khi lượng hình.

Đối với bị cáo Nguyễn Công H, mặc dù bản thân bị cáo H không rủ bị cáo cùng tham gia đánh nhóm người bị hại nhưng khi nhóm người bị hại quay lại quán karaoke để hát thì bị cáo H đã chuản bị hung khí là cây gỗ để đánh nhóm của người bị hại thì bị cáo cũng xông vào hưởng ứng, tiếp sức cho bị cáo H. Bị cáo dùng tay, chân đánh nhóm người bị hại, khi bị cáo H, X bị rơi cây gỗ thì bị cáo nhặt cây gỗ xông vào đánh nhóm của người bị hại, bị cáo không gây thương tích trực tiếp cho anh N, bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức để cho các bị cáo H, X vững tin khi thực hiện tội phạm. Do vậy, hội đồng xét xử thấy cần phải lên cho bị cáo H một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Sau khi gây án bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, người bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo, người bị hại cũng có một phần lỗi đã gây ra cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo H trong khi lượng hình. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên HĐXX áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp

Các bị cáo Đặng Công H, Lê Quang X, Nguyễn Công H có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xét thấy chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà vận dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, giao các bị cáo cho UBND nơi các bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Thành N đã nhận đủ tiền điều trị thương tích do các bị cáo bồi thường và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Đối với Nguyễn Ngọc T có hành vi gây gỗ, dùng tay tát vào mặt Đặng Công H nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với Nguyễn Thành V, Nguyễn Thành N, Nguyễn Văn L, Nguyễn Ngọc T khi thấy Đặng Công H đánh V thì V, N, L, T cũng có tham gia đánh lại nhưng không gây thương tích cho ai nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận S không đề cập xử lý là phù hợp.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về áp dụng điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như phần dân sự là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Án phí HSST các bị cáo H, X, H mỗi người phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố : Các bị cáo Đặng Công H, Lê Quang X, Nguyễn Công H phạm tội " Cố ý gây thương tích".

- Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

- Áp dụng Khoản 2 Điều 104; điểm b, p, đ khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47, Điều 60 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Đặng Công H 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 24/11/2017.

Giao bị cáo Đặng Công H cho Ủy ban nhân dân phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

- Áp dụng Khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47, Điều 60 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Quang X 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 24/11/2017.

Giao bị cáo Lê Quang X cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

- Áp dụng Khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47, Điều 60 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Công H 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 24/11/2017.

Giao bị cáo Nguyễn Công H cho Ủy ban nhân dân phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí:

Án phí HSST các bị cáo Đặng Công H, Lê Quang X, Nguyễn Công H mỗi người phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi thường trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích quy định án treo)

Cỡ chữ