vanban.org

Bản án 115/2017/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 31/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (Bộ luật hình sự năm 1999) - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt m…"
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!VĨNH!YÊN!
TỈNH!VĨNH!PHÚC!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2017/HS-ST
Ngày 31 tháng 10 năm 2017

!

NHÂN!DANH!

!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!VĨNH!YÊN,!TỈNH!VĨNH!PHÚC!

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Đỗ Thế Bình.!

Các"Hội"thẩm"nhân"dân: - Bà Nguyễn Thị Thúy Nga;

- Bà Vũ Thị Kim Dung.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Quang Đại -!Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Tích Sơn, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2017/HS-ST ngày 06 tháng 10 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 116/2017/HSST- QĐ ngày 16 tháng 10 năm 2017, đối với bị cáo:!!

Trần!Quang!H, sinh năm 1979; nơi cư trú: Vĩnh Thịnh 1, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 7/12; bố đẻ Trần Quang T, mẹ đẻ Nguyễn Thị H, vợ là Nguyễn Ngọc H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 116/XPHC 15/10/1996, Công an thị xã Vĩnh Yên (nay là thành phố Vĩnh Yên), tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo 50.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”, bị cáo đã thực hiện xong. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/ST ngày 05/6/1996, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội) xử phạt bị cáo 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội “Cướp tài sản công dân”. Quá trình xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phúc Yên không có Quyết định thi hành án nên không xác định tiền án đối với bị cáo. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/HSST ngày 13/5/1997, Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Yên (nay là thành phố Vĩnh Yên), tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 51/ST ngày 05/6/1996 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung là 27 tháng tù; bị cáo ra trại tháng 3/1999, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 12/1998. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/HSST ngày 18/01/2013, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo ra trại ngày 09/02/2015 và thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 3/2013; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2017 cho đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Hoàng Văn L, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Y, xã Đ, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NHẬN!THẤY:!

Bị cáo Trần Quang H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 20/6/2017, tại khu vực cổng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Vĩnh Phúc, thuộc khu hành chính 11, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Công an thành phố Vĩnh Yên bắt quả tang Trần Quang H có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng nghiện ma túy là Hoàng Văn L.

Tang vật thu giữ gồm có:

- Thu tại tay phải của Hoàng Văn L 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng, L khai nhận đó là gói ma túy heroine vừa mua được của H với giá 300.000đ, vật chứng được niêm phong có ký hiệu A1.

- Thu tại tay phải của Trần Quang H số tiền 100.000đ, H khai nhận đó là tiền vừa bán ma túy cho L mà có.

Tại kết luận giám định số: 627 ngày 24/6/2017, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất"bột,"cục"màu"trắng"mẫu"ký"hiệu"A1"gửi" giám"định"có"khối"lượng"là"0,0459"gam,"không"kể"bao"bì"có"heroine."Khối"lượng" heroine"trong"0,0459"gam"mẫu"là"0,0136"gam”.

Về nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ, Trần Quang H khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 20/6/2017, tại khu vực điểm chờ xe bus, phía trước Ngân hàng nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc, Hoàng Văn L hỏi mua của H 01 gói ma túy heroine với giá 300.000đ, H đồng ý và thỏa thuận: L đưa trước cho H 200.000đ, còn 100.000đ khi nào L nhận được ma túy thì trả nốt. Thỏa thuận xong, L đưa cho H 200.000đ. H cầm tiền và đi bộ đến một dãy nhà trọ (không biết địa chỉ cụ thể) trên khu vực đường Đầm Vạc, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên mua của một người trong phòng trọ đóng kín cửa 01 gói ma túy heroine với giá 200.000đ. Có ma túy, H quay lại điểm chờ xe bus bán cho Long để lấy số tiền 100.000đ thì bị Công an bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 114/KSĐT-MT ngày 05/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Trần Quang H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn L vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 20/6/2017, tại khu vực cổng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Vĩnh Phúc, L có mua của H 01 gói ma túy heroine với giá 300.000đ. Khi H vừa đưa gói ma túy cho L thì bị Công an bắt quả tang và niêm phong tang vật (bút lục 14 và từ bút lục 45- 50).

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên (bút lục 14, 51, 53 và 55).

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ bao gói ma túy còn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000đ đã thu giữ của bị cáo Trần Quang H.

Bị cáo Trần Quang H không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT!THẤY:!

Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Trần Quang H tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 12 giờ ngày 20/6/2017, tại phía trước Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Vĩnh Phúc, thuộc khu hành chính 11, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo Trần Quang H đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy với giá 300.000đ cho đối nghiện là Hoàng Văn L thì bị tổ công tác Công an thành phố Vĩnh Yên phát hiện và bắt quả tang. Tang vật thu giữ được giám định là ma túy, khối lượng ma túy thu giữ là 0,0459 gam, không kể bao bì có heroine. Khối lượng heroine trong 0,0459 gam mẫu là 0,0136 gam”.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Quang H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; gây ra một lớp người nghiện trong xã hội làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 07 năm tù nên theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 03 lần bị kết án và 01 lần bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm quyền sở hữu và tàng trữ ma túy, mặc dù các tiền án đó đã được xóa án tích, tiền sự đã hết thời gian được coi là chưa bị xử lý hành chính nhưng cũng chứng tỏ bị cáo là đối tượng rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Trong vụ án này, mặc dù số lượng ma túy mua bán trái phép là không lớn nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ là thu lời bất chính, hiện tại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” để giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn L là đối tượng nghiện ma túy, mục đích mua túy để sử dụng; hành vi tàng trữ 0,0136 gam ma túy heroine chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền phạt 1.500.000đ là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với người bán ma túy cho H tại dãy nhà trọ trên khu vực đường Đầm Vạc, phường Đ, thành phố Vĩnh Yên. H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ và giới tính cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là đúng pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Đối với bao gói ma túy còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu huỷ. Đối với số tiền 100.000đ đã thu giữ của bị cáo, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 41 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang H phạm tội!“Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 20/6/2017).

Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo Trần Quang H. Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ bao gói còn lại sau giám định (Đặc điểm tang vật như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 26/10/2017).

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Quang H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./. Nơi!nhận:!

Cỡ chữ