vanban.org

Bản án 115/2017/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 25/09/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2017/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2017 của Toà án nhân dân T1 phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 02 (hai năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (10-7-2017). Giao bị cáo A về cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc A phạm tộiTội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại…"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2017/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2017 của Toà án nhân dân T1 phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 105 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2017/HS-PT
Ngày 25-9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- T1 phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tông

Các Thẩm phán: Ông Lâm Văn Be

Ông Nguyễn Duy Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phượng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 115/2017/TLPT-HS ngày 11 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 93/2017/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân T1 phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1954 tại tỉnh Tây Ninh.

Nơi cư trú: Số A, tổ B, Đường Trần P, khu phố N, phường N, T1 phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1920; có vợ tên Đỗ Thị Mỹ H, sinh năm 1954 và 03 con: lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc A: Luật sư Đinh Thái H, Công ty luật B thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh (có mặt).

- Bị hại: Anh Tạ Công T, sinh năm 1994; nơi cư trú: khu phố N, phường N, T1 phố T, tỉnh Tây Ninh.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Anh Dương Lê T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số B, đường B, khu phố N, phường N, T1 phố T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 01/8/2015, sau khi uống rượu xong biết nhà bị cáo A có chăn nuôi gà nên Tạ Công T rủ Lê Minh T1 (tên gọi khác Đ), sinh năm 1996; Nơi cư trú: Khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh cùng đến trộm cắp gà về làm thịt uống rượu tiếp. T1 đồng ý, cả hai cùng đi bộ đến nhà của bị cáo A. T1 đứng ngoài cảnh giới còn T leo tường rào vào bắt trộm gà. Do gà thường xuyên bị mất trộm nên thấy T vào bắt trộm cắp gà, bị cáo A tức giận cầm cây chĩa mũi bằng sắt, cán bằng cầy tầm vông đuổi theo, khi gần đuổi kịp do trời mưa nên bị cáo A bị trượt chân ngã làm mũi chĩa đâm vào mông của T một cái. T tiếp tục bỏ chạy leo lên tường rào để leo ra ngoài. Lúc này bị cáo A chạy đến kêu T leo xuống nhưng T không leo xuống mà tiếp tục leo ra ngoài nên bị cáo A dùng chĩa đâm vào người T 01 cái, làm mũi chĩa dính vào người của T. T đã được T1 đỡ qua tường rào đưa xuống đất. Sau khi xuống đất, T rút mũi chĩa ra bỏ cạnh tường rào và được T1 đưa đến Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á, Thành phố Hồ Chí Minh điều trị đến ngày 17-12-2015 thì xuất viện.

Sau khi đâm T bị thương tích, bị cáo A đi đến Trạm y tế phường N để tìm nhưng không gặp, bị cáo tiếp tục đi đến Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh tìm thì gặp T đang cấp cứu nên đến Công an phường N đầu thú.

* Kết quả giám định thương tật:

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 61/2016/TgT ngày 07-4-2016 của T tâm Pháp y Sở y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Tạ Công T do thương tích gây nên hiện tại là 73%.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 112/2016/TgT ngày 30-6-2016 của T tâm Pháp y Sở y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Tạ Công T do thương tích gây nên hiện tại:

+ Tỷ lệ tổn thương vùng bụng là 73%.

+ Tỷ lệ tổn thương vùng mông là 01%.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) đoạn cây tầm vông dài 01m70, đường kính 0,03m, một đầu có bịt ống sắt ở giữa có lổ trống và 01 (một) cây sắt tròn dài 0,51m, đường kính 0,01m, một đầu cây sắt được đập dẹp nhọn hình mũi tên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự T1 phố Tây Ninh tiếp tục bảo quản chờ xử lý theo quy định.

* Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Tạ Công T yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 150.574.732 đồng. Bị cáo Nguyễn Ngọc A đã bồi thường được 20.000.000 đồng.

Đối với Tạ Công T và Lê Minh T1 do T và T1 chưa có tiền án, tiền sự về tội chiếm đoạt tài sản nên hành vi trộm cắp gà của T và T1 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 93/2017/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2017, Toà án nhân dân T1 phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 105; điểm o, b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27-11-2015; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29-6-2016; khoản 3 Điều 7, điểm b khoản 2 Điều 135, điểm b, r, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 02 (hai năm) tính từ ngày tuyên án (10-7-2017).

Giao bị cáo A về cho Ủy ban nhân dân phường Ninh Sơn, T1 phố Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc A bồi thường cho bị hại Tạ Công T số tiền 55.975.000 (năm mươi lăm triệu chín trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên tiền lãi chậm thi hành án, xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án.

Ngày 21 tháng 7 năm 2017, bị cáo Nguyễn Ngọc A kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, vì cho rằng không gây ra vết thương ở vùng bụng của bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm và đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc A trình bày: Hoàn toàn không chấp nhận bản án sơ thẩm, bởi vì trong vụ án lời khai của bị hại T có mâu thuẫn: Lời khai ban đầu do bị cáo đâm vào bụng rồi mới bị đâm vào mông, nếu T đang leo lên hàng rào thì vết thương ở bụng phải từ dưới lên trên chứ không phải từ trên xuống; đơn yêu cầu khởi tố của T (bút lục 14) thì T cho rằng bị đâm vào mông trước rồi mới bị đâm vào bụng. Khi đối chất thì T cho rằng bị ông A kéo té nằm xuống mới bị đâm vào bụng, chĩa dính vào bụng. Như vậy, với 01 cây chĩa dính vào bụng thì T có thể leo ra hàng rào rất cao được không? Lời khai của bị cáo chỉ xác định dùng chĩa đâm vào mông bị hại. Biên bản xem xét dấu vết thân thể của T có 4 vết thương, vậy có bao nhiêu vết thương do bị cáo gây ra? Bị hại T cho rằng mũi chĩa nhọn do bị cáo đâm dính vào người T lấy ra để cách nơi T leo ra 22m nhưng anh T1 (là người làm chứng) xác định không có vật gì dính vào người T. Do đó, vết thương vùng bụng của T là do vật nhọn khác gây ra, không phải do chĩa của bị cáo gây ra. Từ đó, đề nghị tuyên bố bị cáo không phạm tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét lại bản án sơ thẩm. Vì toàn bộ vết thương của bị hại không do bị cáo gây ra, bị cáo chỉ gây ra vết thương ở vùng mông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi chỉ gây ra vết thương tại vùng mông của bị hại, vết thương tại vùng bụng thì không thừa nhận, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 01/8/2015 tại khu vực chăn nuôi gà trong khuôn viên nhà bị cáo Nguyễn Ngọc A thuộc khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Nguyễn Ngọc A dùng cây chĩa có mũi bằng sắt dài 0,51m, tròn có đường kính 0,01m, 01 đầu được đập dẹp nhọn hình mũi tên, cán làm bằng cây tầm vông dài 1,7m, đường kính 0,03m đâm 02 nhát vào người anh Tạ Công T sau khi anh T thực hiện việc trộm gà.

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Ngọc A thể hiện tại các biên bản ghi lời khai (BL số 46, 47, 50, 51, 74, 75) thể hiện bị cáo đâm hai nhát vào người bị hại.

Ngay sau khi thực hiện hành vi đâm bị hại, bị cáo đã đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh hỏi thăm thì được biết có người thanh niên bị đâm gây thương tích đang được cấp cứu nên bị cáo đến Công an phường N, thành phố %T, tỉnh Tây Ninh tự thú (ghi tại Biên bản về việc người phạm tội ra tự thú (BL 40).

Lời khai nhận của bị cáo nêu trên phù hợp với vết thương trên người bị hại có 01 vết thương vùng mông, 01 vết thương vùng bụng (dưới rốn), phù hợp với hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh ghi nhận Tạ Công T vào viện lúc 20 giờ ngày 01/8/2015, chuẩn đoán vết thương thủng ruột non, thủng trực tràng.

Bác sĩ Văn Thế Ng – Bệnh viên Đa khoa Tây Ninh, trực tiếp phẩu thuật cho Tạ Công T xác định lúc nhập viện vào phẩu thuật bệnh nhân T bị hai vết thương gồm một vết vùng mông trái và một vết thủng vùng bụng có chiều hướng từ rốn xuống hậu môn (BL109).

Bác sĩ Nguyễn Chí H – Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh xác định: T bị hai vết thương: 01 vết thương ở vùng bụng kích thước 05 x 02 cm dưới rốn bên phải, gây thủng ruột non 02 lỗ kích thước 02 x 01 cm và 01 x 01 cm, thủng đầu trên trực tràng 01 cm; 01 vết thương ở vùng mông trái 03 cm, sâu 10 cm (BL 108).

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết luận giám định số 61/2016/TgT ngày 07/4/2016 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Tây Ninh thì Tạ Công T có các dấu hiện chính qua giám định: 01 vết sẹo mổ đường giữa trên dưới rốn, kích thước 16 x 1 cm lành tốt; 01 vết sẹo vùng hố chậu trái, kích thước 8 x 0,6 cm lành tốt; 01 vết sẹo vùng gai chậu trước trên bên phải, kích thước 2 x 1 cm lành tốt; 01 vết sẹo vùng mông bên trái, kích thước 2 x 0,5 cm lành tốt; tổn thương phải cắt đoạn ruột non hồi tràng dưới 1 m, đã xử trí, hiện tại ổn; thủng trực tràng đã xử trí, hiện tại ổn. Tổng cộng có 4 vết sẹo thì có 01 vết sẹo mổ ngay vết thương vùng bụng để xử lý vết thương bị đâm thủng ruột non, thủng trực tràng, 02 vết sẹo đưa hậu môn tạm ra da và dẫn lưu, 01 vết sẹo vùng mông.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, đã thu giữ 01 mũi chĩa nằm ngoài hàng rào nhà bị cáo (mũi chĩa nằm trong khuôn viên của Trường Cao đẳng sư phạm tỉnh Tây Ninh), bị cáo thừa nhận là mũi chĩa của bị cáo đã sử dụng đâm vào người bị hại.

Từ những chứng cứ nêu trên có căn cứ xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Tạ Công T do thương tích gây nên hiện tại là 73% là do một mình bị cáo gây ra. Do đó, kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc A là không có căn cứ chấp nhận.

Từ những chứng cứ trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo điểm b khoản 2 Điều 105 của Bộ luật Hình sự. Do không có kháng cáo, kháng nghị về tội danh nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường số tiền 20.000.000 đồng khắc phục 01 phần hậu quả; bị cáo là người đã tham gia cách mạng từ năm 1969; được Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn tặng Kỷ niệm chương vì đã có công lao đóng góp vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam; có cha được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm x khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Quy định tại điểm b khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn điểm b khoản 2 Điều 105 của Bộ luật Hình sự năm 1999, theo hướng có lợi cho bị cáo, cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp.

Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 105; điểm b, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2017/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2017 của Toà án nhân dân T1 phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 02 (hai năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (10-7-2017).

Giao bị cáo A về cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Ngọc A phải chịu 200.000 đồng.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ