- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hon"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Phan Thị Thùy D về việc yêu cầu ly hôn với Ông Nguyễn Thiên B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1147/2020/HNGĐ-ST Ngày: 01-12-2020 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trƣơng Ngọc Thanh Nhân
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Oanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đồng Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2020 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 336/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2020 về việc "Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 307/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 268/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thùy D, sinh năm 1978.
Địa chỉ: 201 Trần V, Phường M, Quận B, TP. Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thiên B, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Nhà không số, tổ M, ấp 6C, xã V, huyện B, TP. Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn - Bà Phan Thị Thùy D trình bày nhƣ sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông B chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 193, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường M, Quận B,TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2002. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường hạnh phúc, sau một thời gian vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Hiện nay, bà D không còn tình cảm với ông B nữa, bà D và ông B không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay bà D thấy mục đích hôn nhân không đạt được, bà D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thiên Nhật M, nam, sinh ngày 12/5/2003 và Nguyễn Thiên Minh T, nữ, sinh ngày 08/11/2006.
Hiện nay 02 con đang sống chung với bà D tại địa chỉ 201 Trần V, Phường M, Quận B, TP. Hồ Chí Minh.
Bà D yêu cầu trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thiên Nhật M, nam, sinh ngày 12/5/2003 và Nguyễn Thiên Minh T, nữ, sinh ngày 08/11/2006 đến trưởng thành; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn - Bà Phan Thị Thùy D vắng mặt (có đơn xin vắng mặt tại tòa).
Bị đơn - Ông Nguyễn Thiên B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án với nội dung đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phan Thị Thùy D khởi kiện xin ly hôn với Ông Nguyễn Thiên B, đây là tranh chấp về ly hôn. Ông Nguyễn Thiên B cư trú tại huyện B. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Nguyễn Thiên B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt. Bà Phan Thị Thùy D vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Ông Nguyễn Thiên B, Bà Phan Thị Thùy D.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Thùy D và Ông Nguyễn Thiên B có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số…, quyển số … do Ủy ban nhân dân Phường M, Quận B, TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2002. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa Bà Phan Thị Thùy D và Ông Nguyễn Thiên B là hợp pháp.
Theo Bà Phan Thị Thuỳ D xác định: Hiện nay, bà D không còn tình cảm với ông B nữa, bà D và ông B không còn quan tâm chăm sóc cho nhau và đã sống ly thân, không còn quan hệ vợ chồng.
Theo Công văn số 4227/UBND ngày 17/9/2020 của Ủy ban nhân dân xã V, về việc xác minh tình trạng hôn nhân, có nội dung: giữa Bà Phan Thị Thùy D và Ông Nguyễn Thiên B thực tế sinh sống tại địa chỉ nhà không số tổ 1, ấp 6C, xã V, huyện B chỉ trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2002. Do đó, Ủy ban nhân dân xã V chưa đủ thông tin để xác minh nội dung theo công văn trên.
Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải giữa Bà Phan Thị Thùy D và Ông Nguyễn Thiên B, nhưng ông B vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Căn cứ vào Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng”.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Xét thấy, bà D không còn tình cảm với ông B, bà D và ông B không còn quan tâm chăm sóc cho nhau là vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho mục đích của hôn nhân không đạt được.
Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Phan Thị Thùy D về việc yêu cầu ly hôn với Ông Nguyễn Thiên B.
Về con chung: có 02 con chung tên: Nguyễn Thiên Nhật M, nam, sinh ngày 12/5/2003 và Nguyễn Thiên Minh T, nữ, sinh ngày 08/11/2006 có nguyện vọng được sống chung với bà D. Hiện nay 02 con đang sống chung với bà Phan Thị Thùy D.
Xét quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Dương về việc yêu cầu trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thiên Nhật M, nam, sinh năm 2003 và Nguyễn Thiên Minh T, nữ, sinh năm 2006 đến trưởng thành; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà D xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về nợ chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà Bà Phan Thị Thùy D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0078906 ngày 19/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Phan Thị Thùy D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, Điều 52, Điều 53, Điều 54, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết,
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Phan Thị Thùy D về việc yêu cầu ly hôn với Ông Nguyễn Thiên B.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Thùy D được ly hôn với Ông Nguyễn Thiên B.
Giấy chứng nhận kết hôn số 193, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường M, Quận B, TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 04/12/2002 không còn giá trị pháp lý.
1.2. Về con chung: có 02 con chung tên: Nguyễn Thiên Nhật M, nam, sinh năm 2003 và Nguyễn Thiên Minh T, nữ, năm 2006.
Giao con Nguyễn Thiên Nhật M, sinh năm 2003 và Nguyễn Thiên Minh T, sinh năm 2006 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Ghi nhận việc bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được quyền cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích con chung, sau này các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung: Bà D xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. Bà D, ông B có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết bằng một vụ án khác nếu có tranh chấp.
1.4. Về nợ chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phan Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà Bà Phan Thị Thùy D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0078906 ngày 19/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Phan Thị Thùy D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND H. Bình Chánh; - Chi cục THADS H. Bình Chánh; - UBND nơi ĐKKH; - Các đương sự; - Lưu: VT-HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Hải |