vanban.org

Bản án 1143/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Tú T được ly hôn với ông Nguyễn Việt L.

Về con chung: Giao cho bà Trương Thị Tú T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trương Gia T sinh ngày 19/10/2007 và Nguyễn Trương Gia Th sinh ngày 15/4/2009. Ông L được tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi bà T có yêu cầu. Ông L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Tú T được ly hôn với ông Nguyễn Việt L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1143/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 20/11/2018
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nhã. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Bảo Hồng. 2. Ông Lê Thức Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Phan Xuân Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 625/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2018/QĐXXST – HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2018/QĐST – HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Tú T, sinh năm 1989; địa chỉ: 219/50 Âu Dương Lân, Phường 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Việt L, sinh năm 1988; địa chỉ: 432B/17 Dương Bá Trạc, Phường 1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 31 tháng 5 năm 2018 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Trương Thị Tú T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Việt L sống chung vào năm 2007, có đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân Phường B Quận T. Mâu thuẫn gia đình xảy ra là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, lối sống không phù hợp. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà T xác nhận vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Trương Gia T sinh ngày 19/10/2007 và Nguyễn Trương Gia Th sinh ngày 15/4/2009. Bà sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: Bà xác định không có tài sản chung

Về nợ chung: Bà xác định không có nợ.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Việt L: Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án và đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông L đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông L không đến, do đó không có lời khai của đương sự tại tòa.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự. Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét đơn khởi kiện của bà Trương Thị Tú T thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn; do bị đơn cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, nên theo qui định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét nguyên đơn bà Trương Thị Tú T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn ông Nguyễn Việt L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Xét việc bà Trương Thị Tú T và ông Nguyễn Việt L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B Quận T Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 54/KH, quyển số 01/2008 đăng ký ngày 29/3/2008 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của bà T xin được ly hôn với ông L do bà T không còn tình cảm với ông L, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, không có tình nghĩa vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài và hai bên đã tự sống ly thân, bỏ mặc nhau, không còn yêu thương nhau, không giúp đỡ để cùng nhau phát triển. Mặc khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông L nhiều lần đến Tòa để làm rõ tình trạng hôn nhân giữa ông L với bà T nhưng ông L không đến. Chứng tỏ ông L thiếu thiện chí để hòa giải những mâu thuẫn giữa vợ chồng, không xem trọng cuộc sống chung vợ chồng. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông L có hai con chung tên Nguyễn Trương Gia T sinh ngày 19/01/2007 và Nguyễn Trương Gia Th sinh ngày 15/4/2009, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; yêu cầu này phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền lợi cho con trẻ. Vì vậy, căn cứ vào Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông L được tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi bà T có yêu cầu.

Xét về tài sản chung và nợ chung đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56 và Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Tú T được ly hôn với ông Nguyễn Việt L.

2. Về con chung: Giao cho bà Trương Thị Tú T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trương Gia T sinh ngày 19/10/2007 và Nguyễn Trương Gia Th sinh ngày 15/4/2009. Ông L được tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi bà T có yêu cầu.

Ông L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em hoặc Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) bà T phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0014851 ngày 13/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Bà T đã thi hành xong phần án phí dân sự sơ thẩm.

5. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ