vanban.org

Bản án 114/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/3/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2026/HSST
Ngày 16-7-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Trọng và ông Nguyễn Hữu Hải.

- Thư ký phiên toà: Ông Tòng Văn Cách- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Khánh Linh- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Lò Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 17 tháng 01 năm 2003 tại xã Muổi Nọi, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản T, xã MN, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Ng, sinh năm 1983 và bà Lò Thị C, sinh năm 1984; bị cáo có vợ là Quàng Thị H, sinh năm 2006 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2023, con nhỏ nhất sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại quyết định số 67/QĐ-UBND ngày 26/01/2026 bị Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Muổi Nọi, tỉnh Sơn La ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 01 năm kể từ ngày 22/01/2026; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 06 tháng 3 năm 2026. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 00 phút ngày 06/3/2026, Tổ công tác Công an xã Muổi Nọi, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Phiêng Bông, xã Muổi Nọi, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Lò Văn T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong có 05 (năm) gói nilon màu trắng, bên trong 05 (năm) gói nilon có chứa chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma tuý tổng hợp trộn lẫn (theo Lò Văn T khai là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn).

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 06/3/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định, kết quả: Số chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma tuý tổng hợp trộn lẫn bên trong 05 (năm) gói nilon màu trắng có khối lượng như sau:

Số chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma tuý tổng hợp trộn lẫn bên trong gói nilon màu trắng thứ 01 có khối lượng 0,09 gam; trích toàn bộ 0,09 gam, ký hiệu T1 gửi giám định;

Số chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma tuý tổng hợp trộn lẫn bên trong gói nilon màu trắng thứ 02 có khối lượng 0,08 gam; trích toàn bộ 0,08 gam, ký hiệu T2 gửi giám định;

Số chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma tuý tổng hợp trộn lẫn bên trong gói nilon màu trắng thứ 03 có khối lượng 0,12 gam; trích toàn bộ 0,12 gam, ký hiệu T3 gửi giám định;

Số chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma tuý tổng hợp trộn lẫn bên trong gói nilon màu trắng thứ 04 có khối lượng 0,11 gam; trích toàn bộ 0,11 gam, ký hiệu T4 gửi giám định;

Số chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma tuý tổng hợp trộn lẫn bên trong gói nilon màu trắng thứ 05 có khối lượng 0,08 gam; trích toàn bộ 0,08 gam, ký hiệu T5 gửi giám định;

Tổng cộng là: 0,48 gam.

Kết luận giám định số: 498/KL-KTHS ngày 10/3/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T1, T2, T3, T4, T5 là ma túy, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của mẫu gửi giám định là T1= 0,09 gam, T2= 0,08 gam, T3= 0,12 gam, T4= 0,11 gam, T5= 0,08 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,48 gam, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 07 giờ 10 phút, ngày 06/3/2026, Lò Văn T đi bộ một mình từ nhà ở Bản T, xã MN, tỉnh Sơn La đến bản Nong Ỏ, xã Muổi Nọi với mục đích đi tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi T đi đến khu vực bản Nong Ỏ, xã Muổi Nọi, T gặp và hỏi mua được một người nam thanh niên (T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói bằng nilon màu hồng bên trong có 05 (năm) gói nilon màu trắng, bên trong 05 (năm) gói nilon có chứa chất bột cục màu trắng hồng là Heroine và ma tuý tổng hợp trộn lẫn với giá 2000.000 đồng (hai triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, T cất giấu gói ma tuý vừa mua được vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ đi tìm chỗ sử dụng ma tuý, T đến khu vực nghĩa trang bản Nam Tiến, xã Bon Phặng, T san ra một ít ma túy trong số ma túy vừa mua được rồi sử dụng bằng hình thức đốt hít, số ma túy còn lại T gói lại như cũ và cất giấu vào túi quần đang mặc, T đang sử dụng ma túy thì nghe có tiếng xe máy đi lên nên T dừng lại. Sau đó T tiếp tục đi bộ đi tìm chỗ sử dụng ma tuý, khi T đi đến khu vực cổng nhà nghỉ Hoa Ban thuộc bản Phiêng Bông, xã Muổi Nọi thì bị tổ công tác Công an xã Muổi Nọi, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số: 46/CT- VKS-HS ngày 08 tháng 6 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù đến 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 05 (năm) mảnh nilon màu trắng bên trong 01 (một) phong bì có viền xanh đỏ dán kín.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Căn cứ xác định tội danh:

Ngày 06/3/2026 bị cáo Lò Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,48 gam chất ma tuý, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Phiêng Bông, xã Muổi Nọi, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 06/3/2026; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 498/KL-KTHS ngày 10/3/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,48 gam chất ma tuý, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đích để sử dụng của bị cáo Lò Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên bị cáo bị Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Muổi Nọi, tỉnh Sơn La ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 01 năm kể từ ngày 22/01/2026 tại quyết định số 67/QĐ-UBND ngày 26/01/2026.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo Lò Văn T không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 05 (năm) mảnh nilon màu trắng bên trong 01 (một) phong bì có viền xanh đỏ dán kín là vật không có giá trị, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Lò Văn T khai mua của một người nam thanh niên (T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu) vào ngày 06/3/2026. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ. Và Cơ quan CSĐT công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để xử lý đối với người nam thanh niên trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 06/3/2026 của bị cáo Lò Văn T. Quá trình điều tra xác định bị cáo đã trích từ số ma túy bị thu giữ trong vụ án để sử dụng và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trên không thuộc trường hợp xem xét xử lý trách nhiệm hình sự về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Do vậy Cơ quan CSĐT không xử lý là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Lò Văn T là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/3/2026.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 05 (năm) mảnh nilon màu trắng bên trong 01 (một) phong bì có viền xanh đỏ dán kín.

(Mô tả chi tiết theo Quyết định chuyển vật chứng số 35/QĐ-VKS-KV2 ngày 29/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La và biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 94 ngày 03/6/2026 giữa Công an xã Muổi Nọi, tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ