- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H, Lâm Kim X - Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2026/HNGĐ-ST Ngày: 02/7/2026 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐỒNG NAI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tùng.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Kim Tân;
2. Bà Nguyễn Thị Thu. Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trương Ngụy Ái Linh – Thư ký viên. Đại diện VKSND khu vực 6 – Đồng Nai: không tham dự. Ngày 02/7/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 290/2026/TLST- HNGĐ ngày 06/5/2026, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/6/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2026/QĐST – HNGĐ ngày 25/6/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1995
Địa chỉ thường trú: thôn B, xã C, tỉnh Hà Tĩnh.
Địa chỉ liên hệ: số B đường T, khu phố N, phường D, thành phố Hồ Chí
Minh.
- Bị đơn: Ông Lâm Kim X, sinh năm 1995
Địa chỉ: tổ A, ấp Đ, xã X, thành phố Đ.
(Bà H, ông X đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 07/4/2026 và các bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Trên cơ sở tự nguyện, vào ngày 15/8/2016 bà và ông Xuân T đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, thành phố Đ).
Trong quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu thì xảy ra nhiều mâu thuẫn cuộc sống không hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cãi vã tính tình không hợp, không có cùng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2024 cho đến nay, bà H ở lại tỉnh Hà Tĩnh để sinh sống và làm việc còn ông X hiện đang sinh sống và làm việc tại thành phố Đ. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, tình cảm không thể hàn gắn, bà H nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên đề nghị Tòa án được ly hôn với ông X.
Vợ chồng có con chung là cháu Lâm Duy C, sinh ngày 07/11/2016; Khi ly hôn bà H có nguyện vọng nuôi cháu C; Không yêu cầu ông X cấp dưỡng con chung.
Tài sản chung, nợ chung theo bà H là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Bị đơn là ông Lâm Kim X được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn và con chung với ông Lâm Kim X, cư trú tại: tổ A, ấp Đ, xã X, thành phố Đ. Như vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai theo Điều 35 BLTTDS.
[2] Về tư cách tham gia tố tụng và thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn, ông Lâm Kim X là bị đơn.
[3] Về thủ tục tố tụng: Bà H có đơn xét xử vắng mặt, ông X được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt căn cứ điều 227, 228 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông X là phù hợp.
[4] Xét lời trình bày của các đương sự nhận thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Lâm Kim X tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 15/8/2016 tại UBND xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, thành phố Đ). Hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Bà H có nguyện vọng xin ly hôn với ông Lâm Kim X nhưng ông không hợp tác, không có lời khai. Theo bà H thì nguyên nhân mâu thuẫn của hai vợ chồng là do tính tình không hợp, không cùng quan điểm sống. Hai vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2024 cho đến nay. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai đều tống đạt văn bản tố tụng cho ông Lâm Kim X theo luật định, ông X nhận được nên biết rõ việc bà H làm đơn ly hôn ông nhưng ông không hợp tác, không đến Tòa án làm việc, chứng tỏ ông X cũng không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông 2 bà đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được, cần thiết cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Lâm Kim X.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị H nuôi con chung là cháu Lâm Duy C, sinh ngày 07/11/2016; Cháu C có nguyện vọng được ở với mẹ nên giao cháu cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp; Tạm thời ông X không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: theo bà H là không có và cũng không có ai yêu cầu giải quyết nên không xét.
[5] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà nộp tại Thi hành án dân sự thành phố Đ theo biên lai thu tiền số 0010368 ngày 06/5/2026 thành án phí. Bà H đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật TTDS;
Căn cứ điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Lâm Kim X.
2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lâm Duy C, sinh ngày 07/11/2016 đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Tạm thời ông X không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Khi cần thiết, bà H và ông X được quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: theo bà H là không có và và cũng không có ai yêu cầu giải quyết nên không xét.
4. Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà H nộp tại Thi hành án dân sự thành phố Đ theo biên lai thu tiền số 0010368 ngày 06/5/2026 thành án phí. Bà H đã nộp đủ án phí.
Báo cho bà H, ông X biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. 3
| Nơi nhận: - TAND thành phố Đồng Nai; - VKSND thành phố Đồng Nai; - VKSND KV6 – Đồng Nai; - Phòng THA DS thành phố Đồng Nai; - UBND xã Xuân Phú; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. 4 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Tùng |