vanban.org

Bản án 114/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn M đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn M 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 27/3/2026. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn M - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn M đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:114/2025/HS-ST
Ngày: 29-7-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Phúc

Ông Nguyễn Tấn Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đặng Duy Thanh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 114/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2026/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn M, sinh ngày 27/5/1992 tại tỉnh Đồng Tháp; Tên gọi khác: Không có; CCCD số 082092007663; Nơi cư trú: Khu phố M, phường C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn B (đã chết) và bà Giang Kim L; Bị cáo M chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: 02 lần: Ngày 05/8/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp) xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Bản án số 10/2014/HS-ST). Bị cáo chấp hành xong án phạt tù 06/12/2014 nhưng chưa đóng án phí nên chưa được xoá án tích. Ngày 29/8/2022 bị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp) xử 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bản án số 73/2022/HS-ST). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù 10/10/2025; Nhân thân: Ngày 04/02/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Tháp) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 12 tháng theo quyết định số 16/2021/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 24/12/2021; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm gian từ ngày 27/3/2026; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

Anh Cao Tấn T, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp I, xã M, tỉnh Đồng Tháp. (xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Đặng Văn M bị Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Chiều ngày 24/3/2026, Đặng Văn M đi uống bia tại quán 79 thuộc khu phố M, Phường C, tỉnh Đồng Tháp cùng với Lê Văn M1, sinh ngày 05/7/1989, nơi cư trú: ấp E, xã M, tỉnh Đồng Tháp; C, sinh ngày 04/5/1995, nơi cư trú: ấp I, xã M, tỉnh Đồng Tháp và Nguyễn Bảo D, sinh ngày 04/01/2001, nơi cư trú: ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp. Theo M khai, trên đường đi Mến thấy 01 con dao có cán bằng nhựa màu đỏ, lưỡi bằng kim loại màu trắng được quấn trong tờ giấy mỏng trên nền đất nên nhặt cất giấu dao vào trong túi quần Jean.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, M1 rủ tất cả đến quán “Karaoke Sao Đêm” của chị Mai Ngọc S, sinh ngày 20/10/1987, nơi cư trú: khu phố C, phường C, tỉnh Đồng Tháp để tiếp tục uống bia và hát thì được mọi người đồng ý. Tại đây, cả nhóm vào phòng số 4. Khoảng 22 giờ cùng ngày, không thấy T nên M đi tìm thì gặp T đang ngồi nói nói chuyện với nhân viên của quán trên băng ghế đá gần quầy thu tiền, M liền hỏi T sao không vô nhậu mà ngồi đó thì T kêu M vô trước. Do nghe nhân viên nói M có mang dao giấu trong người nên khi thấy M chị S nói đi hát mà sao mang dao vô phòng thì M liền lấy dao trong túi quần ra (con dao vẫn còn quấn giấy) và lớn tiếng chửi chị S thì T đưa tay cản liền bị M dùng tay phải cầm dao đâm trúng 01 cái vào cổ trái của T thì bị T dùng chân phải đá 01 cái làm gãy một phần lưỡi dao. M cầm cán dao có 01 phần lưỡi còn lại đi về phía chị S thì T đưa tay cản lại liền bị M tiếp tục đâm trúng 01 cái vào vành tai trái nên T bỏ chạy, M cầm dao đuổi theo T nhưng không kịp nên đi bộ về nhà. Anh T được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với M.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 161/KLTTCT-TTPY ngày 27/3/2026 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Cao Tấn T là 05% (năm phần trăm). Thương tích do vật sắc gây nên.

Kết luận giám định số 554/KL-KTHS ngày 02/4/2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1, A2 không thuộc danh mục vũ khí thô sơ và không thuộc danh mục dao có tính sát thương cao theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C.

Vật chứng thu giữ, gồm:

- Thu giữ dữ liệu điện tử: 04 đoạn Video được lưu trong đĩa DVD ghi lại diễn biến sự việc (chuyển trong hồ sơ vụ án).

- 01 (một) con dao bị gãy một phần lưỡi, cán dao bằng nhựa màu đỏ có chữ KIWI dài 10,3cm, trên cán dao có 01 lỗ tròn, phần lưỡi dao bị gãy còn lại dài 2,5cm có 01 lưỡi cắt bị cong sang hướng trái theo chiều từ đầu đuôi dao đến mũi dao.

- 01 (một) lưỡi dao bị gãy còn lại bằng kim loại màu trắng sáng, dài 08cm, mũi dao dạng bầu, đầu còn lại có vết gãy, loại dao 01 lưỡi cắt, trên lưỡi dao có chữ KIWI, lưỡi dao bị cong sang bên trái theo hướng từ đuôi dao đến mũi dao.

Về trách nhiệm dân sự: anh Cao Tấn T yêu cầu bị cáo M bồi thường chi phí điều trị, tiền ăn thời gian nằm viện, tổn thất tinh thần, tiền công lao động tổng số tiền là 14.500.000 đồng. M đồng ý nhưng chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKSKV4 ngày 07/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp để xét xử đối với bị cáo Đặng Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận xác định: Khoảng 22 giờ ngày 24/3/2026 tại quán “Karaoke Sao Đêm” thuộc khu phố C, phường C, tỉnh Đồng Tháp, mặc dù không có mâu thuẫn nhưng Đặng Văn M đã có hành vi cầm dao là hung khí nguy hiểm vô cớ đâm 02 cái trúng vào cổ bên trái và tai trái của anh Cao Tấn T gây thương tích qua giám định là 05%. Bị cáo M có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên trong lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, đây là tình tiết định khung trách nhiệm hình sự. Do đó có cơ sở xác định bị cáo Đặng Văn M đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 134; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm d Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đặng Văn M từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, xử lý vật chứng của vụ án, buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị cáo phải chịu án phí theo qui định.

Bị cáo thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Đặng Văn M ý kiến ăn năn hối cãi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp, của Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, tình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đặng Văn M đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình là vào khoảng 22 giờ ngày 24/3/2026 tại quán “Karaoke Sao Đêm” thuộc khu phố C, phường C, tỉnh Đồng Tháp, mặc dù không có mâu thuẫn nhưng bị cáo đã có hành vi cầm dao là hung khí nguy hiểm vô cớ đâm 02 cái trúng vào cổ bên trái và tai trái của anh Cao Tấn T gây thương tích qua giám định được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%.

Lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng. Bị cáo M đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, đây là tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự. Do đó đã có đủ cơ sở để kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Văn M cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội danh và hình phạt quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Vì vậy bản cáo trạng số 78/CT-VKSKV4 ngày 07/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Đặng Văn M về tội danh và hình phạt đã nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của anh Cao Tấn T, gây thương tích cho anh T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án, gây tư tưởng bất bình trong nhân dân. Bản thân bị cáo nhận thức được rằng, sức khỏe là vốn quí của mỗi con người, được pháp luật bảo vệ một cách triệt để, việc xâm phạm đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng do bản chất côn đồ, xem thường pháp luật và sức khỏe của người khác, chỉ muốn giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực mà bị cáo bất chấp tất cả để thực hiện hành vi phạm tội của mình. Giữa bị hại và bị cáo không có mâu thuẫn, lẽ ra khi được bị hại can ngăn, bị cáo phải dùng lời lẽ thiệt hơn để giải quyết việc mâu thuẫn tranh chấp, nhưng bị cáo lại dùng dao là hung khí nguy hiểm xông vào đâm và gây thương tích cho anh T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%, thể hiện bản chất xem thường pháp luật, sức khỏe và tính mạng của người khác. Xã hội đang lên án những hành vi, việc làm như bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, nhân thân và hình phạt cần áp dụng đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Đặng Văn M có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là có tính chất côn đồ theo quy định của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền án về tội cố ý, chưa được xóa án tích nhưng không sửa chữa, từ bỏ thói hư tật xấu. Ngày 04/02/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Tháp) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 12 tháng theo quyết định số 16/2021/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 24/12/2021.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã đã thật thà khai báo, ăn năn hối cãi, đây là tình tiết giảm nhẹ được qui định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án, áp dụng hình phạt.

Do đó cần áp dụng một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có thời gian cải tạo, giáo dục bản thân bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, biết tôn trọng sức khỏe của người khác, đồng thời để làm thức tỉnh những ai đang mang tư tưởng xem thường sức khỏe và tính mạng của người khác như bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

+ Thu giữ trong giai đoạn điều tra: 04 đoạn Video được lưu trong đĩa DVD ghi lại diễn biến sự việc (chuyển trong hồ sơ vụ án); 01 (một) con dao bị gãy một phần lưỡi, cán dao bằng nhựa màu đỏ có chữ KIWI dài 10,3cm, trên cán dao có 01 lỗ tròn, phần lưỡi dao bị gãy còn lại dài 2,5cm có 01 lưỡi cắt bị cong sang hướng trái theo chiều từ đầu đuôi dao đến mũi dao; 01 (một) lưỡi dao bị gãy còn lại bằng kim loại màu trắng sáng, dài 08cm, mũi dao dạng bầu, đầu còn lại có vết gãy, loại dao 01 lưỡi cắt, trên lưỡi dao có chữ KIWI, lưỡi dao bị cong sang bên trái theo hướng từ đuôi dao đến mũi dao. Hiện do Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ đang tạm giữ: Xét thấy đối với con dao, đây là công cụ phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; đối với 04 đoạn Video ghi lại diễn biến sự việc nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo và anh T đã tự nguyện thỏa thuận bị cáo bồi thường cho anh Cao Tấn T số tiền 14.500.000đồng, tuy nhiên bị cáo chưa thực hiện. Do đó buộc bị cáo phải bồi thường cho anh T số tiền 14.500.000đồng khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh, hình phạt, Hội đồng xét xử có ghi nhận khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn M đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm d Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn M 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 27/3/2026.

2. Về vật chứng:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án dữ liệu điện tử: 04 đoạn Video được lưu trong đĩa DVD ghi lại diễn biến sự việc.

+ Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm:

- 01 (một) con dao bị gãy một phần lưỡi, cán dao bằng nhựa màu đỏ có chữ KIWI dài 10,3cm, trên cán dao có 01 lỗ tròn, phần lưỡi dao bị gãy còn lại dài 2,5cm có 01 lưỡi cắt bị cong sang hướng trái theo chiều từ đầu đuôi dao đến mũi dao;

- 01 (một) lưỡi dao bị gãy còn lại bằng kim loại màu trắng sáng, dài 08cm, mũi dao dạng bầu, đầu còn lại có vết gãy, loại dao 01 lưỡi cắt, trên lưỡi dao có chữ KIWI, lưỡi dao bị cong sang bên trái theo hướng từ đuôi dao đến mũi dao.01 (một) cái rựa bằng kim loại dài 65cm. Trong đó phần lưỡi bằng kim loại dài 27cm; phần cán bằng kim loại dạng ống dài 38cm, đường kính ống kim loại 2,5cm, đã qua sử dụng.

Tất cả số vật chứng trên hiện do Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ đang tạm giữ. Thực hiện việc tịch thu tiêu hủy khi án có hiệu lực pháp luật.

3. Về trách nhiệm dân sự:

- Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 584, 585, 586, 587, 588, 590, Khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Đặng Văn M phải bồi thường cho anh Cao Tấn T số tiền chi phí thiệt hại là 14.500.000đồng. Thực hiện nghĩa vụ bồi thường khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí:

- Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đặng Văn M phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 725.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ