vanban.org

Bản án 114/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Cẩm T được ly hôn với ông Lê Văn C.

Về con chung: Bà Phạm Thị Cẩm T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Phạm Thị Cẩm H, sinh ngày 01/4/2018. Về cấp dưỡng: Ông Lê Văn C không phải cấp dưỡng cho con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà T yêu cầu ly hôn với ông C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Cẩm T được ly hôn với ông Lê Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 9 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Hiển.

Bà Trương Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 236/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 433/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Cẩm T, sinh năm 1994 (căn cước công dân xxxxxxxxxxxx); cư trú tại: Khóm VL, xã VTT, tỉnh An Giang. Vắng mặt

- Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1995 (căn cước công dân xxxxxxxxxxxx); cư trú tại: Số 250, ấp MT, xã MĐ, tỉnh An Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 07/3/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Cẩm T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông C do quen biết, tìm hiểu nên tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Xã MĐ, huyện CP, tỉnh An Giang vào ngày 05/09/2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên thường xảy ra tranh cải làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình. Hơn nữa, ông C không quan tâm đến vợ con và kinh tế gia đình. Bà nhiều lần hàn gắn tình cảm với ông C tuy nhiên vẫn không có kết quả, mẫu thuẫn vẫn diễn ra và ngày càng trầm trọng. Hiện bà và ông C đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn C.

- Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Phạm Thị Cẩm H, sinh ngày 01/4/2018, hiện bà đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Văn C vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Cẩm T, cho bà Phạm Thị Cẩm T được ly hôn với ông Lê Văn C.

- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung tên Phạm Thị Cẩm H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng cho con chung nên không đề nghị xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại xã MĐ, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang thụ lý giải quyết là đúng với quy định pháp luật.

[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông C xác lập hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã MĐ theo giấy chứng nhận kết hôn số 135 ngày 05/09/2017. Do đó, hôn nhân của ông bà là hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 9 và Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và phải có nghĩa vụ chung sống với nhau. Tuy nhiên, bà T và ông C đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; cả hai đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Thời gian ly thân là quãng thời gian dài nhưng bà T và ông C không thể hàn gắn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để ông bà đoàn tụ nhưng bà T cương quyết ly hôn; ông C vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến. Qua đó, cho thấy ông C không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, hôn nhân của ông bà thực tế đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân dân tối cao, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T là có cơ sở nên chấp nhận.

Về con chung: Khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và con chung cũng có nguyện vọng được sống với bà T. Ông C không có ý kiến về yêu cầu nuôi dưỡng con chung của bà T và cũng không có yêu cầu nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn. Xét thấy, bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung từ khi bà và ông C sống ly thân cho đến nay. Do đó, để ổn định về tâm lý, về môi trường sống, điều kiện học tập, nơi ở và đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung cũng như tôn trọng nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Phạm Thị Cẩm H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng cho con chung nên ông C không phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết, ông C không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết. Trường hợp có tranh chấp thì các bên có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Về án phí dân sự: Bà T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ông C không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9; Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân dân tối cao;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Cẩm T được ly hôn với ông Lê Văn C.

- Về con chung: Bà Phạm Thị Cẩm T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Phạm Thị Cẩm H, sinh ngày 01/4/2018.

- Về cấp dưỡng: Ông Lê Văn C không phải cấp dưỡng cho con chung.

+ Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

+ Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

- Về án phí dân sự: Bà Phạm Thị Cẩm T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009628 ngày 17 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 - An Giang).

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ