vanban.org

Bản án 114/2024/ST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lô Thị D được ly hôn với anh Vi Văn C. Buộc chị Lô Thị D và anh Vi Văn C chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao con chung Vi Gia B - sinh ngày 23/4/2017 cho anh Vi Văn C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị C và anh D"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/ST-HNGĐ
Ngày 24/ 7/2024
“V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Giang; Bà Võ Thị Hồng Long

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXX-ST, ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lô Thị D - sinh năm 1998 – có mặt.

- Bị đơn: Anh Vi Văn C - sinh năm 1993 - vắng mặt. Đều có địa chỉ: Bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An.

- Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Thế K - Trợ giúp viên thuộc trung tâm T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Lô Thị D trình bày: Chị Lô Thị D và anh Vi Văn C kết hôn vào ngày 14/6/2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2020 thì bắt đầu xẩy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không tìm thấy tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình, anh C hay uống rượu, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con, mặc dù đã được gia đình hai bên nội ngoại khuyên nhủ nhiều lần và hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng cuộc sống có quá nhiều mâu thuẫn. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị D làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vi Văn C.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 01 người con chung là Vi Gia B - sinh ngày 23/4/2017, hiện nay đang sinh sống cùng với anh C, nếu ly hôn chị D đồng ý cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

Về tài sản chung: Chị Lô Thị D và anh Vi Văn C thỏa thuận tự chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng chị không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị .

Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/5/2024, anh Vi Văn C trình bày: Anh Vi Văn C và chị Lô Thị D kết hôn vào ngày 14/6/2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2020 vợ chồng đi làm công nhân ở tỉnh Bắc Ninh thì bắt đầu xẩy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên bất đồng, xích mích nên cùng nhau về nhà sinh sống đến năm 2023 thì chị D tự ý bỏ đi, không liên lạc về cho gia đình, anh C đã nhiều lần gọi điện khuyên nhủ chị D về nhà nhưng chị D không về, nay chị D làm đơn ly hôn, anh C không nhất trí ly hôn mà mong muốn chị D quay về đoàn tụ gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung tên Vi Gia B - sinh ngày 23/4/2017, hiện nay đang sinh sống cùng anh C, nếu ly hôn anh C có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu chị D cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng anh.

Sau khi Tòa án lấy lời khai xong, anh C công nhận lời khai của anh là đúng sự thật nhưng không ký vào biên bản lấy lời khai, và từ chối nhận các văn bản tố tụng của tòa án mà không nêu rõ lý do nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông tiến hành lập biên bản làm căn cứ giải quyết vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Vi Văn C đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Về tình cảm: Chị Lô Thị D và anh Vi Văn C đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện về thủ tục kết hôn.Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân đã lâu không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện cho chị Lô Thị D được ly hôn với anh Vi Văn C; Về con chung: Vợ chồng chị D có 01 người con chung là Vi Gia B - sinh ngày 23/4/2017, hiện nay đang sinh sống cùng anh C tại bản Mét, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An, nguyện vọng của anh C trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu chị D cấp dưỡng tiền nuôi con, chị D cũng đồng ý, cháu Vi Gia B có nguyện vọng được ở cùng với bố nên đề nghị Hội đồng xét xử xét giao con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con anh C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung của vợ chồng chị D và anh C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn ly hôn của chị Lô Thị D, cho chị Lô Thị D được ly hôn với anh Vi Văn C; Về con chung: Giao con chung Vi Gia B - sinh ngày 23/4/2017 cho anh Vi Văn C trực tiếp nuôi dưỡng; Về tài sản chung của vợ chồng chị D và anh C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí chị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại bản Mét, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Qua xác minh tình trạng hôn nhân của chị Lô Thị D và anh Vi Văn C tại UBND xã B cho biết, sau khi đăng ký kết hôn chị D và anh C sinh sống tại bản Mét, xã B, huyện C, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đến năm 2023 thì chị D bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay, hiện tại anh C vẫn sinh sống tại địa phương, vợ chồng chị D có 01 người con chung Vi Gia B - sinh ngày 23/4/2017 và đang sinh sống cùng với anh C tại bản Mét, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Vi Văn C đã được Tòa án lấy lời khai, về tình cảm anh C không nhất trí ly hôn; về con chung đề nghị Tòa án giao con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng tiền nuôi con; về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ vợ chồng anh không nợ tổ chức, cá nhân nào và anh C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng anh C đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Vi Văn C theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét thấy chị Lô Thị D và anh Vi Văn C có đăng ký kết hôn vào 14/6/2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh C là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị D phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2023 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy chị D và anh C đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.

Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Lô Thị D và anh Vi Văn C không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện, cho chị Lô Thị D được ly hôn với anh Vi Văn C.

Về con chung: Vợ chồng chị D và anh C có 01 người con chung là Vi Gia B

- sinh ngày 23/4/2017 và đang sinh sống cùng với anh C tại bản Mét, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An, nguyện vọng của anh C xin trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu chị D cấp dưỡng tiền nuôi con, chị D cũng đồng ý cho anh C trực tiếp nuôi con, xét thấy nguyện vọng của anh C là chính đáng, cháu Vi Gia B có nguyện vọng được ở cùng với bố, để đảm bảo quyền lợi của con nên xét giao con chung Vi Gia B - sinh ngày 23/4/2017 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con anh C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị D và anh C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Lô Thị D phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lô Thị D.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lô Thị D được ly hôn với anh Vi Văn C. Buộc chị Lô Thị D và anh Vi Văn C chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Giao con chung Vi Gia B - sinh ngày 23/4/2017 cho anh Vi Văn C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành. Chị Lô Thị D có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Anh C cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Lô Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000619 ngày 16/4/2024.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ