- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: c n cứ khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 3 Điều 106; các điều 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày: 25 - 12 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Tr n V n Cảnh.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Quách Xuân Luyện và ng L u V n Ninh.
- Thư ký phiên tòa: ông Đặng Tr n Kim Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 n m 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 n m 2024, theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 n m 2024, đối với bị cáo:
- Phạm Văn Đ - sinh n m 1995; nơi ĐKHKTT: tổ dân phố L, thị trấn T T, huyện T L, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: th n D X, xã T H, huyện T L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ v n hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; t n giáo: kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm V n K (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Nguyễn Thị H và có 01 con sinh n m 2021; tiền án, tiền sự: kh ng; đặc điểm nhân thân: ngày 03/3/2017, TAND huyện Thanh Liêm xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây th ơng tích”, chấp hành xong bản án ngày 16/01/2018; ngày 31/8/2018, TAND huyện Thanh Liêm xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chấp hành xong bản án ngày 11/8/2020. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/8/2024 đến ngày 24/8/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hà Nam, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: ông Nghiêm V n Đ - sinh n m 1962; nơi c trú: th n V T N, xã L C, huyện T L, tỉnh Hà Nam, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Nguyễn Thị H - sinh n m 1989; nơi c trú: thôn D X, xã Th H, huyện T , tỉnh Hà Nam, có mặt.
* Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn V n T - sinh n m 1963, vắng mặt.
2. Chị Nghiêm Thị Ph ơng L - sinh n m 1984, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/8/2024, ng Nghiêm V n Đ điều khiển xe m t BKS 90B3 - 205… đi liên hệ mua vật t để xây, sửa gian phòng bếp của gia đình, khi đi ng Đ mang theo 01 cặp vải màu đen bên trong có tổng số tiền 36.000.000 đồng, gồm có 30.000.000 đồng (tiền con gái ng Đ là chị Nghiêm Thị Ph ơng L cho ng Đ để sửa gian bếp); số tiền 4.503.000 đồng (tiền thuế, phí n ng nghiệp ng Đ đã thu của 14 hộ dân th n Vực Trại Nhuế vào sáng ngày 11/8/2024) và số tiền 1.497.000 đồng (tiền cá nhân của ng Đ mang theo để trả lại các hộ dân khi thu thuế). Trong khi vào nhà ng Nguyễn V n T, trú tại th n V T N, xã L C thì ng Đ dựng xe m t BKS 90B3 - 205… tại lề đ ờng đối diện cổng nhà ông T và để chiếc cặp vải ở giá để hàng giữa xe m t . Cùng thời điểm đó Phạm V n Đ điều khiển xe m t nhãn hiệu Vision kh ng đeo BKS chở theo Đỗ Anh T đi qua khu vực tr ớc cổng nhà ng T, T nhìn thấy 01 chiếc cặp vải ở giá để hàng giữa xe mô tô BKS 90B3 - 205… của ng Đ nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc cặp này. T bảo Đ điều khiển xe m t quay lại áp sát vị trí xe m tô BKS 90B3 - 205… rồi T dùng tay lấy trộm chiếc cặp vải, Đ điều khiển xe m t chở T đi đến địa bàn thị trấn Bình Mỹ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, trên đ ờng đi thì T lấy toàn bộ số tiền trong chiếc cặp vải và vứt chiếc cặp xuống dệ đ ờng bên phải.
Ngày 14/8/2024, ng Nghiêm V n Đ làm đơn trình báo sự việc trên đến C ng an xã Liêm C n, huyện Thanh Liêm. Cùng ngày 14/8/2024, C ng an xã Liêm C n đã bàn giao hồ sơ cùng tài liệu cho cơ quan CSĐT - C ng an huyện Thanh Liêm để tiến hành giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 15/8/2024, cơ quan CSĐT - C ng an huyện Thanh Liêm tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm V n Đ tại th n D X, xã T H, huyện T L, thu giữ vật chứng, tài sản gồm: 01 xe m t đeo BKS 90B6 - 038… bên trong cốp xe có số tiền 1.800.000 đồng. Phạm V n Đ tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Pro .
Tiến hành truy tìm vật chứng, cơ quan Cảnh sát điều tra - C ng an huyện Thanh Liêm đã phát hiện, thu giữ tại vị trí giáp m ơng phía dệ đ ờng bên phải của cánh đồng thuộc tổ dân phố V n Phú, thị trấn Bình Mỹ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam: 01 chiếc cặp vải màu đen kích th ớc (40 x 30)cm, bên trong có 01 quyển sổ bìa màu xanh kích th ớc (30 x 20) cm và các giấy tờ ghi các chữ, số có tiêu đề “Danh sách quà tết cán bộ th n Vực Trại Nhuế n m 2024”, “Th ng báo chỉ tiêu giao nộp vụ chiêm n m 2024”.
Trong các ngày 20/8/2024, 25/10/2024, vợ của Phạm V n Đ là chị Nguyễn Thị H tự nguyện giao nộp 01 Giấy chứng nhận đ ng ký xe m t số 90002521 và số tiền 18.200.000 đồng để khắc phục hậu quả.
Quá trình điều tra, Phạm V n Đ khai nhận: khoảng 14 giờ ngày 11/8/2024, Đ điều khiển xe m t nhãn hiệu Vision, kh ng đeo BKS (xe có BKS là 90B6 - 038…) đi từ chỗ ở tại th n D X, xã T H, huyện T L đến đón Đỗ Anh T tại ngã t huyện Thanh Liêm (giao cắt đ ờng ĐT 494 với đ ờng QL1A) để đi chơi. Sau đó, Đ điều khiển xe m t chở T đi đến địa phận th n Vực Trại Nhuế, xã Liêm C n, huyện Thanh Liêm thì T phát hiện 01 xe m t của ng Nghiêm V n Đ đang dựng ở lề đ ờng, tại giá để hàng ở giữa xe có 01 chiếc cặp vải màu đen nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc cặp này. T đã bảo Đ điều khiển xe m t quay lại áp sát vị trí chiếc xe m t của ng Đ để T ngồi sau dùng tay lấy chiếc cặp vải rồi Đ điều khiển xe chạy theo h ớng Liêm C n đến địa bàn thị trấn Bình Mỹ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, sau khi lấy tiền ở trong cặp vải thì T vứt chiếc cặp xuống dệ đ ờng. Đ điều khiển xe m t chở T quay lại thuê phòng trọ tại nhà nghỉ Hữu Nghị ở tổ 7, ph ờng Thanh Tuyền, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Tại đây, T bỏ số tiền đã lấy đ ợc trong chiếc cặp vải ra đếm rồi chia cho Đ 10.000.000 đồng, Đ đã tiêu xài cá nhân hết 8.200.000 đồng còn lại 1.800.000 đồng cất giữ ở trong cốp xe mô tô Vision BKS 90B6 - 038….
* Về trách nhiệm dân sự: ông Nghiêm V n Đ yêu c u Phạm V n Đ cùng đối t ợng có liên quan trong vụ án phải trả lại số tiền 36.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 115 /CT-VKS-SH ngày 26 tháng 11 n m 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam đã truy tố Phạm V n Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
Tại phiên tòa: đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm thực hành quyền c ng tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo nh bản cáo trạng đã nêu, kh ng thay đổi bổ sung gì. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng nh nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Phạm V n Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xử phạt Phạm V n Đ từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ. Ngoài ra còn đề xuất về h ớng xử lý vật chứng của vụ án cụ thể trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, trả lại cho chị Nguyễn Thị H 01 xe mô tô BKS 90B6 - 038… kèm theo giấy chứng nhận đ ng ký xe m t , trả lại cho ng Nghiêm V n Đ số tiền 20.000.000 đồng và 01 chiếc cặp vải. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại; ông Nghiêm V n Đ có ý kiến: chiều ngày 11/8/2024 ng bị mất một chiếc cặp vải bên trong có 36.000.000 đồng; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vợ bị cáo là chị Nguyễn Thị H đã trả cho ng 16.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho ng số tiền 20.000.000 đồng trong đó có 1.800.000 đồng là của ng còn lại 18.200.000 đồng vợ bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; chị Nguyễn Thị H có ý kiến: chị là vợ của bị cáo chiếc xe m t BKS 90B6 - 038… là của chị nguồn tiền mua xe là do chị tiết kiệm mà có nay chị đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chị chiếc xe trên để làm ph ơng tiện đi lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Về tố tụng: các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những ng ời tham gia tố tụng kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Ng ời làm chứng vắng mặt kh ng có lý do, xét thấy sự vắng mặt của những ng ời này kh ng ảnh h ởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó Hội đồng xét xử quyết đinh vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung
Về tội danh: Tại phiên toà cũng nh tại Cơ quan điều tra, Phạm V n Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nh bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo đ ợc thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp Biên bản khám nghiệm hiện tr ờng, lời khai của bị hại, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/8/2024, tại th n Vực Trại Nhuế, xã Liêm C n, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của ng Nghiêm V n Đ, Phạm V n Đ cùng với Đỗ Anh T đã tiếp cận và thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc cặp vải ở giá để hàng giữa xe m t BKS 90B3 - 205... của ng Đ dựng ở lề đ ờng, bên trong chiếc cặp có số tiền 36.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đ ợc quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đối với bị cáo là hoàn toàn đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của ng ời khác mà quyền này đ ợc pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ảnh h ởng xấu đến tình hình trị an. Do đó Hội đồng xét xử thấy c n ra bản án nghiêm khắc t ơng xứng hành vi phạm tội của bị cáo.
Về nhân thân bị cáo và các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: bị cáo là ng ời có nhân thân xấu.
Về tình tiết t ng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra xác cũng nh tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, n n n hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, trong quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử bị cáo cũng đã tác động gia đình bồi th ờng thiệt hại, khắc phục hậu quả cho ông Nghiêm V n Đ nên đ ợc h ởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra ng ời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó kh n, có ng nội (ông Phạm V n C) là ng ời có c ng đ ợc Nhà n ớc tặng Huân ch ơng kháng chiến c ng hạng nhì nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đ ợc h ởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy: c n thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm r n đe giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành c ng dân l ơng thiện, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung trong cộng đồng.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó kh n, kh ng có thu nhập hiện đang bị tạm giam nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Đối với số tiền 20.000.000 đồng (gồm: 1.800.000 đồng thu giữ của Phạm V n Đ và 18.200.000 đồng do chị Nguyễn Thị H giao nộp để khắc phục hậu quả cho Đ), nên c n trả lại cho bị hại. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử chị Nguyễn Thị H vợ của bị cáo đã khắc phục hậu quả (trả cho bị hại 16.000.000 đồng).
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Pro là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, c n trả lại cho bị cáo.
- Đối 01 quyển sổ bìa màu xanh và các giấy tờ ghi các chữ, số có tiêu đề “Danh sách quà tết cán bộ th n Vực Trại Nhuế n m 2024”, “Th ng báo chỉ tiêu giao nộp vụ chiêm n m 2024” là giấy tờ cá nhân của ng Nghiêm V n Đ, không có yêu c u nhận lại nên đ ợc l u giữ trong hồ sơ vụ án.
- Đối với số tiền 20.000.000 đồng (gồm: 1.800.000 đồng thu giữ của Phạm V n Đ và 18.200.000 đồng do chị Nguyễn Thị H giao nộp để khắc phục hậu quả cho Đ) và 01 chiếc cặp vải màu đen c n trả cho ng Nghiêm V n Đ.
- Đối với 01 chiếc xe m BKS 90B6 - 038… kèm 01 Giấy chứng nhận đ ng ký xe m t số 90002521 là tài sản, giấy tờ hợp pháp của chị Nguyễn Thị H (vợ Phạm V n Đ); trong khi Đại chở Đỗ Anh T đi chơi thì thấy chủ sở hữu sơ hở trong việc quản lý tài sản nên mới thực hiện hành vi trộm cắp. Do đó c n trả lại cho chị H là phù hợp.
Về các vấn đề khác: quá trình điều tra, Phạm V n Đ khai nhận cùng Đỗ Anh T thực hiện hành vi trộm cắp chiếc cặp vải của ng Nghiêm V n Đ, cơ quan CSĐT - C ng an huyện Thanh Liêm đã áp dụng các biện pháp điều tra, xác minh nh ng ch a có kết quả. Ngoài lời khai của Phạm V n Đ thì không còn tài liệu nào khác để làm rõ hành vi của Đỗ Anh T, cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm đã ra Quyết định truy tìm ng ời đối với Đỗ Anh T và tiếp tục xác minh khi có c n cứ sẽ xử lý sau là đúng pháp luật.
Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: c n cứ khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 3 Điều 106; các điều 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội.
Tuyên bố: bị cáo Phạm V n Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Phạm V n Đ 12 (m ời hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (15/8/2024).
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Xử lý vật chứng: trả lại cho bị cáo Phạm V n Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Pro + 5G m u đen. Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 01 chiếc xe mô BKS 90B6 - 038… kèm 01 Giấy chứng nhận đ ng ký xe m t số 90002521. Trả lại cho ng Nghiêm V n Đ số tiền 20.000.000 đồng theo ủy nhiệm chi số 22 lập ngày 27/11/2024 tại Kho bạc nhà n ớc huyện Thanh Liêm và 01 chiếc cặp vải m u đen (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/11/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm).
3. Án phí: buộc bị cáo Phạm V n Đ phải nộp 200.000đ (Hai tr m nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo, bị hại, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại tại phiên tòa đ ợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
5. Quyền yêu c u thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu c u thi hành án: tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Thanh Liêm; - Cơ quan CSĐT C ng an huyện Thanh Liêm; - Trại tạm giam C ng an tỉnh Hà nam; - Chi cục THADS huyện Thanh Liêm; - Sở T pháp tỉnh Hà Nam; - Cổng Th ng tin điện tử của Tòa án; - Bị cáo; - Bị hại; - Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - L u hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Cảnh |