vanban.org

Bản án 114/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 30/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/10/2024. Về hình phạt bổ sung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn đức hưng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HS-ST
Ngày: 30-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

-Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sự -Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Quyền- Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Ông Vi Đăng Khoa - Kiểm sát viên. Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 114/2024/TLST- HS ngày 16 tháng 12 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Đức H, sinh năm 1988; Tên gọi khác: Không

Nơi cư trú: thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; T: Không;

Nghề nghiệp: không;Trình độ văn hóa: 12/12.

Con ông: Nguyễn Đức H1, sinh năm 1965;

Con bà: Tạ Thị G, sinh năm 1966;

Vợ, con: chưa có.

Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án :

Bản án số 17/2020/HSST ngày 28/4/2020 của Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/10/2021. Đã nộp tiền án phí, bồi thường dân sự xong ngày 29/5/2020.

Bản án số 74/2022/HSST ngày 20/9/2022 của Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. H chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/9/2024.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Bản án số 16/2007/HSST ngày 08/8/2007 của Toà án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Đức H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. H đã thi hành xong tiền án phí ngày 23/10/2007 và chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2008.

Tại bản án số 15/2007/HSST ngày 21/8/2007 của Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Đức H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. H đã thi hành xong tiền án phí ngày 03/3/2008 và chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2008.

Tại bản án số 25/2013/HSST ngày 17/5/2013 của Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Đức H 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. H đã thi hành xong tiền án phí ngày 11/7/2013 và chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/7/2014..

Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại

Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang.

(Có mặt tại phiên tòa)

2.Người bị hại.

-Ông Hà Văn B, sinh năm 1968

( vắng mặt)

-Ông Hà Văn T, sinh năm 1968

( vắng mặt)

Đều cư trú: Thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang

-Bà La Thị N, sinh năm 1977

( vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Quyền, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

-Anh Nguyễn Đức H2, sinh năm 1991 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức H, sinh năm 1988 ở thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dươngtiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích và không có nghề nghiệp. Để có tiền tiêu xài, H đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản với thủ đoạn đánh bả mèo đem bán cho nhà hàng, quán ăn. Khoảng 20 giờ ngày 16/10/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển kiểm soát 34B2-738.26 một mình từ nhà đến khu vực bến xe H thuộc phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ni lông màu đen chứa bả mèo là những đầu mẩu cá khô tẩm thuốc độc với số tiền 200.000 đồng. Đến khoảng hơn 00 giờ ngày 17/10/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển kiểm soát 34B2-738.26 mang theo túi bả này đến khu vực thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang thả bả mèo rải rác trên trục đường thuộc thôn S mục đích để cho những con mèo ăn trúng độc chết để H trộm cắp. Sau khi thả bả xong, H lái xe ra ngoài cánh đồng ngồi đợi đến khoảng 02 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô quay lại cung đường đã thả bả tìm kiếm, nhặt được 04 con mèo khác nhau đã chết do ăn bả. Khi H đang nhặt mèo để cho vào bao tải màu xanh mang theo từ trước để trên xe mô tô của mình thì bị người dân phát hiện, bắt quả tang. Sau đó, lực lượng Công an xã N đã đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Đức H, thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu xanh, biển kiểm soát 34B2-738.26; 01 bảo tải màu xanh bên trong có 04 con mèo, cụ thể: 01 con mèo cái, màu lông trắng xám vàng, trọng lượng 1,9 kg và 01 con mèo cái, màu lông trắng xám, trọng lượng 2,0 kg; 01 con mèo cái, màu lông trắng vàng, trọng lượng 3,9 kg; 01 con mèo cái, màu lông đen vàng, trọng lượng 2,4 kg; 01 (một) túi nilon bên trong có một số đầu mẩu cá nướng; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, bạc; 01 (một) điện thoại di động Samsung màu đen.

Tại Kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 23/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: “01 con mèo cái, màu lông trắng xám vàng, có trọng lượng 1,9 kg có giá 237.500 đồng; 01 con mèo cái, màu lông trắng xám, có trọng lượng 2,0 kg có giá 250.000 đồng; 01 con mèo cái, màu lông trắng vàng, có trọng lượng 3,9 kg có giá 487.500 đồng. 01 con mèo cái, màu lông đen vàng, có trọng lượng 2,4 kg có giá 300.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản là 1.275.000 đồng (một triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).”.

Tại Kết luận giám định số 8086/KL-KTHS ngày 30/10/2024 của V - Bộ C, kết luận: “Trong các mẫu dạ dày và dịch dạ dày của các con mèo đã chết (ký hiệu 1, 2, 3, 4) và các mẫu đầu mẩu cá khô gửi giám định đều tìm thấy xyanua (CN, cyanide). Xyanua là chất độc mạnh, rất độc với người và động vật; có liều gây chết động vật là 1,3 – 10mg/kg thể trọng. Ngoài ra, trong các mẫu gửi giám định đều không tìm thấy các chất độc thường gặp khác: Thuốc diệt chuột (nhóm chống đông máu, fluoroacetat, tetramine); hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu diệt cỏ).

*Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS-HH ngày 16/12/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đức H thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức H và đề nghị:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 - Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/10/2024.

*Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 - Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 -Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải màu xanh; 01 đôi dép tông, màu đen xám, quai dép in chữ “NIKE” (đã qua sử dụng); 01 mũ bảo hiểm màu đen, có in chữ “Royal” (đã qua sử dụng)

-Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Sam sung, màu đen ( đã được niêm phong), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

-Về trách nhiệm dân sự: Không có

-Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền do bị cáo không có công việc ổn định và không có tài sản.

Về án phí: Bị cáo được phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Ngoài ra quyền kháng cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo Nguyễn Đức H tại phiên tòa hôm nay phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 17/10/2024, tại khu vực thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Nguyễn Đức H có hành vi trộm cắp 04 con mèo trị giá 1.275.000 đồng.

Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173- Bộ luật hình sự; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Đức H theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về vai trò và tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Đức H đã có hành vi lén lút để thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Do đó, với hành vi như trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Quyết định của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Đức H theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Nguyễn Đức H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, Khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự, nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

-Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Đức H có nhân thân xấu, có tiền án chưa được xóa án tích.

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 - Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền do bị cáo không có công việc ổn định và không có tài sản.

Đối với 01 con mèo cái, màu lông trắng xám vàng, trọng lượng 1,9 kg và 01 con mèo cái, màu lông trắng xám, trọng lượng 2,0 kg xác định đều là của anh Hà Văn B, sinh năm 1968 ở thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang; 01 con mèo cái, màu lông trắng vàng, trọng lượng 3,9 kg là của chị La Thị N, sinh năm 1977 ở thôn Q, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang; 01 con mèo cái, màu lông đen vàng, trọng lượng 2,4 kg là của anh Hà Văn T, sinh năm 1968 ở thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Sau khi xác định trọng lượng và thu giữ mẫu của các con mèo, các chủ sở hữu không có nhu cầu nhận lại tài sản nên Công an xã N đã tiến hành tiêu hủy để đảm bảo an toàn, vệ sinh.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Đức H đã tự nhờ em ruột là anh Nguyễn Đức H2 bồi thường cho các bị hại gồm chị La Thị N số tiền 487.500 đồng, ông Hà Văn B số tiền 487.500 đồng và ông Hà Văn T số tiền 300.000 đồng. Đến nay, Chị La Thị N, ông Hà Văn B, ông Hà Văn T không có yêu cầu gì về dân sự; anh H2 không yêu cầu H phải bồi hoàn số tiền nêu trên, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Quá trình bị cáo H bị người dân bắt quả tang, H bị người dân đánh gây thương tích do H dùng bình xịt hơi cay chống trả, tuy nhiên H tự xác định là vết thương xây xát nhẹ, không đề nghị gì đối với những thương tích này. Đối với Bình xịt hơi cay, H đã vứt bình xịt hơi cay đi nhưng không nhớ vứt ở vị trí nào, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Đối với người bán cho Nguyễn Đức H gói bả mèo để thực hiện hành vi phạm tội, H khai không biết nhân thân lai lịch nên không có căn cứ xác minh xử lý, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Đức H2 là người cho Nguyễn Đức H mượn chiếc xe mô tô nhưng không biết H sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Do đó, anh H2 không phạm tội, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 - Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 -Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải màu xanh; 01 đôi dép tông, màu đen xám, quai dép in chữ “NIKE” (đã qua sử dụng); 01 mũ bảo hiểm màu đen, có in chữ “Royal” (đã qua sử dụng) do bị cáo không có nhu cầu lấy lại.

-Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Sam sung, màu đen ( đã được niêm phong) là tài sản hợp pháp, không sử dụng vào việc phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền kháng cáo theo Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 - Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/10/2024.

2.Về hình phạt bổ sung: Không có.

3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 - Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 -Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải màu xanh; 01 đôi dép tông, màu đen xám, quai dép in chữ “NIKE” (đã qua sử dụng); 01 mũ bảo hiểm màu đen, có in chữ “Royal” (đã qua sử dụng).

-Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Sam sung, màu đen ( đã được niêm phong) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

4.Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

6.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ