vanban.org

Bản án 114/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Khánh L và anh Nguyễn Văn H.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Nơi nh n: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, con chung giữa chị L và anh H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Khánh L và anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17-5-2024
V/v: Ly hôn giữa chị L và anh H

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Ái.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Phạm Văn Lịch.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đ i di n Vi n ki s t nh n d n huy n H i H u tha gia phi n t a: Bà Trần Thị n - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 44/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Khánh L, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu Hạ Khê, xã MT, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố số 1, thị trấn C, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Mai, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ dân phố số 1, thị trấn C, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

(Chị L, bà Mai xin vắng mặt;

Anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 01 tháng 4 năm 2023 và Quá

trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Khánh L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Khánh L và anh Nguyễn Văn H

đăng ký kết hôn ngày 01/3/2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm và liên tục cãi chửi nhau, tình cảm vợ chồng dần lạnh nhạt nên hai người đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay xác định vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L đề nghị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị L xác nhận vợ chồng không có con chung, hiện nay chị L cũng không có thai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L xác nhận vợ chồng

không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự cho anh H. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án, anh H không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị L gửi cho Tòa án cũng như không đến Tòa làm việc mà không có lý do. Đến nay, anh H vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Khánh L.

* Tại biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Mai là mẹ đẻ, cùng nơi cư

trú với anh H đã nhận thay và cam kết giao tận tay cho anh H các văn bản tố tụng của Tòa án và trình bày: Lời khai của chị L về thời gian tìm hiểu, quá trình chung sống của chị L, anh H là đúng. Về mâu thuẫn giữa hai người, nguyên nhân mâu thuẫn là gì thì bà không được biết. Anh H đã biết việc chị L có đơn xin ly hôn với anh H tại Tòa án nhưng vì bận công việc nên không đến Tòa án làm việc được. Anh H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung và về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng anh H không có ý kiến gì. Bà Mai xin vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa thực hiện đúng đủ nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Khánh L và anh Nguyễn Văn H. Về con chung; Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: không xem xét giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Khánh L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt lần thứ hai không có lý do; người làm chứng là bà Nguyễn Thị Mai xin vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự, người làm chứng.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Khánh L và anh Nguyễn Văn H là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 01 tháng 03 năm 2018. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra xích mích, cãi chửi nhau. Hai người đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H. Thông qua gia đình, anh H đề nghị giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh H, qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh H là trầm trọng, bản thân anh H biết việc chị L có đơn xin ly hôn nhưng không đến Tòa án làm việc, cũng không giao nộp văn bản ghi ý kiến của mình về việc chị L xin ly hôn cho Tòa án. Chị L và anh H có thời gian sống ly thân đã lâu nhưng hai người không có biện pháp cụ thể nhằm hàn gắn tình cảm và mong muốn cuộc sống chung của vợ chồng tiếp tục tồn tại. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, cho chị Nguyễn Thị Khánh L ly hôn anh Nguyễn Văn H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L xác

nhận vợ chồng không có con chung, không có tài sản, không vay mượn ai tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh H không có ý kiến về con chung và tài sản nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Khánh L là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Khánh L và anh Nguyễn Văn H.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Chị Nguyễn Thị Khánh L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0003108 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị Nguyễn Thị Khánh L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Nơi nh n:

Cỡ chữ