vanban.org

Bản án 114/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận, thống nhất của chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ là giao con tên Đoàn Gia H, sinh ngày 13/9/2015 (theo nguyện vọng của cháu H) cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ THUỲ D - ĐOÀN VĂN Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12-9-2024
“V/v ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Nguyễn Thanh Nguyên.

2- Ông Lê Văn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Bà Lai Thị Ngọc Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 254/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 22/7/1990.

Địa chỉ: Khu phố B, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

2- Bị đơn: Anh Đoàn Văn Đ, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Ấp R, xã T.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

(Các đương sự đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 20/6/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuỳ D trình bày và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ kết hôn với nhau năm 2015, có tổ chức lễ cưới theo phong tục ở địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 19/5/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên cự cãi nhau, làm cho hạnh phúc không còn nữa, từ đó vợ chồng đã ly thân từ đó cho nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh Đoàn Văn Đ.

Về con chung: Có 01 người con tên Đoàn Gia H, sinh ngày 13/9/2015. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đoàn Văn Đ Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải anh Đ vẫn vắng mặt. Nhưng anh Đ có đơn xin vắng mặt và có ý kiến trình bày là đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy D, đồng ý giao con tên Đoàn Gia H, sinh ngày 13/9/2015 cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Đằng không cấp dưỡng nuôi con. Còn tài sản và nợ chung anh thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ đều vắng mặt.

Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ.

Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận, thống nhất của chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ là giao con tên Đoàn Gia H, sinh ngày 13/9/2015 (theo nguyện vọng của cháu H) cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, nợ chung và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Đối với chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ mà vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ đã có lời trình bày thể hiện trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt đối với chị D và anh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ kết hôn với nhau năm 2015 và có đăng ký kết hôn ngày 19/5/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang nên hôn nhân của chị D và anh Đ là hợp pháp.

Về mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến cự cãi nhau, làm cho hạnh phúc không còn nữa từ đó vợ chồng đã ly thân cho đến nay.

Trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ đã tự nguyện thuận tình ly hôn với nhau. Xét thấy, sự tự nguyện của anh chị không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử công nhận.

Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận, thống nhất của chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ là giao con tên Đoàn Gia H, sinh ngày 13/9/2015 (theo nguyện vọng của cháu H) cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thùy D phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Vậy, chị D đã nộp đủ tiền án phí.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận, thống nhất của chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Đoàn Văn Đ là giao con tên Đoàn Gia H, sinh ngày 13/9/2015 (theo nguyện vọng của cháu H) cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị D và anh Đ có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thùy D phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số: 0003299 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy, chị D đã nộp đủ tiền án phí.

5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị D và anh Đ vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ