- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng góp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2024/DS-ST Ngày: 02/7/2024 V/v T/C Hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Đa.
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hoàng Bảy.
2. Bà Tăng Thị Bạch Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Trang– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 02/7/2024, tại phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 02/2024/TLST-DS ngày 03/01/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2024/QĐXXST-DS ngày 24/5/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 159/2024/QĐST-DS ngày 12/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Long Đ, sinh năm 1980 (có mặt).
Địa chỉ: Số B, ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Kiều T (Đỗ Thị T), tên gọi khác: Giỏi (vắng mặt).
Ông Nguyễn Thanh P (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, qua xem xét lời khai và yêu cầu của các đương sự, qua xét hỏi trước tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/11/2023, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Huỳnh Long Đ trình bày: Ông làm chủ hụi, bà T và ông P là hụi viên, bà T và ông P đã tham 04 dây hụi tháng và 04 dây hụi mùa, sau khi hốt hụi xong bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông, ông đã khởi kiện đến Tòa án 02 lần và đã giải quyết xong, tính đến nay, bà T và ông P còn nợ ông 03 dây hụi tháng, 04 dây hụi mùa, cụ thể như sau:
* Hụi tháng:
Dây 1: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 20/11/2019 âl, mãn ngày 20/10/2021 âl, có 25 phần, bà T và ông P tham gia 01 phần ( để tên Chị G), bà T đóng hụi sống được 01 lần. Đến lần khui thứ 02 (20/12/2019 âl) thì bà T, ông P ra lời 500.000 đồng, hốt được số tiền 36.500.000 đồng. Bà T, ông P đóng hụi chết được 08 lần = 16.000.000 đồng ( từ tháng 01/2020 đến tháng 7/2020 âl có nhuần tháng 4). Từ tháng 8/2020 âl đến 01/2021 âl bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 06 tháng x 2.000.000 đồng = 12.000.000 đồng (Ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã giải quyết xong). Từ tháng 02/2021 đến tháng 09/2021 âl, bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 08 tháng x 2.000.000 đồng = 16.000.000 đồng, ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã được giải quyết xong. Dây hụi này còn 01 lần khui ( tháng 10/2021 âl) bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông, nên bà T và ông P còn nợ lại ông 2.000.000 đồng.
Dây 2: Hụi tháng 1.000.000 đồng, mở ngày 01/3/2020 âl, mãn ngày 01/02/2022 âl, có 25 phần, bà T và ông P tham gia 01 phần ( để tên Chị G), bà T đóng hụi sống được 01 lần. Đến lần khui thứ 02 (01/4/2020 âl) thì bà T, ông P ra lời 330.000 đồng, hốt được số tiền 16.410.000 đồng. Bà T, ông P đóng hụi chết được 04 lần = 4.000.000 đồng ( từ tháng 4 nhuần/2020 đến tháng 7/2020 âl). Từ tháng 8/2020 âl đến 01/2021 âl bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 06 tháng x 1.000.000 đồng = 6.000.000 đồng (Ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã giải quyết xong). Từ tháng 02/2021 đến tháng 9/2021 âl, bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 08 tháng x 1.000.000 đồng = 8.000.000 đồng, ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã được giải quyết xong. Từ tháng 10/2021 âl đến mãn hụi (tháng 02/2022 âl) bà T, ông P không đóng hụi chết cho ông là 05 tháng x 1.000.000 đồng = 5.000.000 đồng. Như vậy bà T còn nợ lại ông 5.000.000 đồng.
Dây 3: Hụi tháng 1.000.000 đồng, mở ngày 15/5/2020 âl, mãn ngày 15/02/2022 âl, có 22 phần, bà T và ông P tham gia 01 phần ( để tên Chị G), bà T đóng hụi sống được 02 lần. Đến lần khui thứ 03 ( 15/7/2020 âl) thì bà T, ông P ra lời350.000 đồng, hốt được số tiền 14.350.000 đồng. Sau khi hốt hụi xong bà T, ông P không đóng hụi chết cho ông từ tháng 8/2020 âl đến 01/2021 âl là 06 tháng x 1.000.000 đồng = 6.000.000 đồng. (Ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã giải quyết xong). Từ tháng 02/2021 đến tháng 8/2021 âl, bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 08 tháng x 1.000.000 đồng = 8.000.000 đồng. ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã được giải quyết xong. Từ tháng 10/2021 âl đến mãn hụi (tháng 02/2022 âl) bà T, ông P không đóng hụi chết cho ông là 05 tháng x 1.000.000 đồng = 5.000.000 đồng. Như vậy bà T còn nợ lại ông 5.000.000 đồng.
Tổng cộng 03 dây hụi tháng bà T và ông P còn nợ ông 12.000.000 đồng ( dây 1: 2.000.000 đồng + dây 2: 5.000.000 đồng + dây 3: 5.000.000 đồng)
* Hụi mùa
Dây 1: Hụi mùa ( bốn tháng khui một lần) 5.000.000 đồng, mở ngày 15/11/2017 âl, mãn ngày 15/11/2022 âl, có 16 phần, bà T và ông P tham gia 01 phần ( để tên Chị G), bà T đóng hụi sống được 02 lần. Đến lần khui thứ 03 (15/7/2018 âl) thì bà T, ông P ra lời 2.400.000 đồng, hốt được số tiền 43.800.000 đồng. Bà T, ông P đóng hụi chết được 06 lần = 30.000.000 đồng ( từ vụ tháng 11/2018 đến vụ tháng 7/2020 al). Vụ tháng 11/2020 âl bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 5.000.000 đồng (Ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã giải quyết xong). Từ vụ tháng 03/2021 đến vụ tháng 7/2021 âl, bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 02 vụ x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng, ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã được giải quyết xong. Vì bà T , ông P không đóng hụi chết cho ông nhiều vụ lúa liên tục. Nay ông yêu cầu bà T, ông P phải có nghĩa vụ trả cho ông 04 lần hụi chết từ vụ tháng 11/2021 đến mãn hụi vụ tháng 11/2022 âl là 5.000.000 đồng x 04 lần = 20.000.000 đồng.
Dây 2: Hụi mùa ( bốn tháng khui một lần) 2.000.000 đồng, mở ngày 15/11/2017 âl, mãn ngày 15/7/2022 âl, có 15 phần, bà T và ông P tham gia 01 phần ( để tên Chị G), bà T đóng hụi sống được 01 lần. Đến lần khui thứ 02 (15/3/2018 âl) thì bà T, ông P ra lời 800.000 đồng, hốt được số tiền 17.600.000 đồng. Bà T, ông P đóng hụi chết được 07 lần = 14.000.000 đồng ( từ vụ tháng 7/2018 đến vụ tháng 7/2020 âl). Vụ tháng 11/2020 âl bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 2.000.000 đồng (Ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã giải quyết xong). Từ vụ tháng 03/2021 đến vụ tháng 7/2021 âl, bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 02 vụ x 2.000.000 đồng = 4.000.000 đồng, ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã được giải quyết xong. Vì bà T, ông P không đóng hụi chết cho ông nhiều vụ lúa liên tục. Theo đơn khởi kiện, ông yêu cầu bà T, ông P phải có nghĩa vụ trả cho ông 03 lần hụi chết từ vụ tháng 11/2021 đến mãn hụi vụ tháng 7/2022 âl là 2.000.000 đồng x 03 lần = 6.000.000 đồng. (theo đơn khởi kiện là 15.000.000 đồng do sai sót trong đánh máy).
Dây 3: Hụi mùa ( bốn tháng khui một lần) 3.000.000 đồng, mở ngày 15/3/2019 al, mãn ngày 15/7/2023 âl, có 14 phần, bà T và ông P tham gia 01 phần ( để tên Chị G), bà T đóng hụi sống được 01 lần. Đến lần khui thứ 02 (15/7/2019 âl) thì bà T, ông P ra lời 1.600.000 đồng, hốt được số tiền 19.800.000 đồng. Bà T, ông P đóng hụi chết được 03 lần = 9.000.000 đồng ( từ vụ tháng 11/2019 đến vụ tháng 7/2020 âl). Vụ tháng 11/2020 âl bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 3.000.000 đồng (Ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã giải quyết xong). Từ vụ tháng 03/2021 đến vụ tháng 7/2021 âl, bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 02 vụ x 3.000.000 đồng = 6.000.000 đồng, ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã được giải quyết xong. Vì bà T , ông P không đóng hụi chết cho ông nhiều vụ lúa liên tục. Nay ông yêu cầu bà T, ông P phải có nghĩa vụ trả cho ông 06 lần hụi chết từ vụ tháng 11/2021 đến mãn hụi vụ tháng 7/2023 âl là 3.000.000 đồng x 06 lần = 18.000.000 đồng.
Dây 4: Hụi mùa ( bốn tháng khui một lần) 3.000.000 đồng, mở ngày 15/3/2019 âl, mãn ngày 15/7/2023 âl, có 14 phần, bà T và ông P tham gia 01 phần ( để tên Chị G), bà T đóng hụi sống được 01 lần. Đến lần khui thứ 02 (15/7/2019 âl) thì bà T, ông P ra lời 1.500.000 đồng, hốt được số tiền 21.000.000 đồng. Bà T, ông P đóng hụi chết được 03 lần = 9.000.000 đồng ( từ vụ tháng 11/2019 đến vụ tháng 7/2020 âl). Vụ tháng 11/2020 âl bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 3.000.000 đồng (Ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã giải quyết xong). Từ vụ tháng 03/2021 đến vụ tháng 7/2021 âl, bà T và ông P không đóng hụi chết cho ông là 02 vụ x 3.000.000 đồng = 6.000.000 đồng, ông đã khởi kiện đến Tòa án và đã được giải quyết xong. Vì bà T , ông P không đóng hụi chết cho ông nhiều vụ lúa liên tục. Nay ông yêu cầu bà T, ông P phải có nghĩa vụ trả cho ông 06 lần hụi chết từ vụ tháng 11/2021 đến mãn hụi vụ tháng 7/2023 âl là 3.000.000 đồng x 06 lần = 18.000.000 đồng.
Tổng cộng hụi tháng và hụi mùa bà T và ông P còn nợ ông 74.000.000 đồng. Nay ông Huỳnh Long Đ yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách giải quyết: Buộc bà Đỗ Thị Kiều T và ông Nguyễn Thanh P trả cho ông số tiền nợ hụi của 07 dây hụi nêu trên là 74.000.000 đồng.
Đối với bị đơn bà Đỗ Thị Kiều T (Đỗ Thị T) và ông Nguyễn Thanh P: Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết cho đến nay, bà T và ông P không tham gia tố tụng nên Tòa án không thể thu thập được lời khai và ý kiến của bà T và ông P.
Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy, tại phiên tòa các bị đơn bà Đỗ Thị Kiều T (Đỗ Thị T) và ông Nguyễn Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi một phần nội dung khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn T và ông P trả số tiền nợ hụi là 74.000.000 đồng thay vì là 84.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên cần được chấp nhận theo khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Ông Đ làm chủ hụi, vợ chồng bà T và ông P là hụi viên đã tham gia 03 dây hụi tháng và 04 dây hụi mùa. Sau khi hốt hụi xong, bà T và ông P không đóng đầy đủ tiền hụi chết cho ông Đ. Đến thời điểm ông Đ khởi kiện (ngày 01/11/2023), số tiền hụi chết bà T và ông P còn nợ ông Đ là 74.000.000 đồng. Các phần nợ hụi chết trước ngày 01/11/2023 đã được Tòa án nhân dân huyện Kế Sách giải quyết bằng bản án số 19/2022/DS-ST ngày 25/02/2022 (đã có hiệu lục pháp luật).
Hội đồng xét xử cho rằng Hợp đồng góp hụi giữa ông Đ, bà T, ông P được lập trên cơ sở tự nguyện của các bên, không trái đạo đức xã hội, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, khi giao kết hợp đồng, các đương sự là những người có đủ năng lực hành vi dân sự nên giao dịch trên giữa các đương sự là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho bị đơn, trong đó có lần ông Nguyễn Thanh P đã trực tiếp nhận. Bị đơn bà T và ông P đã nhận được các thủ tục tố tụng của Tòa án, biết được nội dung khởi kiện của ông Đ nhưng không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện này nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 357, 468, 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 16, Điều 18, Điều 27 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ, buộc bà T và ông P có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đ số tiền hụi chết đã đến hạn là 65.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Thanh P và bà Đỗ Thị Kiều T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là 74.000.000 đồng x 5% = 3.700.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147; Điều 227, 228; khoản 1 Điều 244; Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ các Điều 357, 468, 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 27, khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Căn cứ các Điều 16, 18, 27 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
TUYÊN XỬ:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc các bị đơn bà Đỗ Thị Kiều T (Đỗ Thị T) và ông Nguyễn Thanh P có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn ông Huỳnh Long Đ số tiền nợ hụi đã đến hạn tính đến ngày 01/11/2023 (ngày ông Đ khởi kiện) là 74.000.000 đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Huỳnh Long Đ có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Đỗ Thị Kiều T (Đỗ Thị T) và ông Nguyễn Thanh P còn phải có trách nhiệm liên đới trả lãi cho ông Huỳnh Long Đ theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Đỗ Thị Kiều T (Đỗ Thị T) và ông Nguyễn Thanh P phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.700.000 đồng.
Ông Huỳnh Long Đ được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.070.000 đồng từ Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001093 ngày 29/12/2023 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đã thu.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phúc thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Kế Sách; - Chi cục THADS huyện Kế Sách; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Linh Đa |