- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo H phạm các tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND QUẬN S THÀNH PHỐ P Bản án số: 114/2023/HSST Ngày: 24/5/2022 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S THÀNH PHỐ P
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông V;
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà H và bà H;
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà T;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận S tham gia phiên tòa: Bà H – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24/5/2023, tại trụ sở TAND quận S, thành phố P, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 110/2023/HSST ngày 19/4/2023, đối với bị cáo:
H, sinh năm 1992; Giới tính: Nam;
Nơi ĐKNKTT:
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Q và bà T
Bị cáo có vợ là S (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2019.
Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 20/5/2021, TAND quận H xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại 28/10/2021, chưa chấp hành nộp tiền án phí.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2023 đến nay – Có mặt.
Người bị hại: Chị H, sinh năm 2001
Địa chỉ: A- Xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị VKSND quận S, thành phố P truy tố về hành vi phạm tội như sau: H do muốn quan hệ tình dục với gái mại dâm nhưng không muốn trả tiền nên đã nảy sinh ý định lừa gái bán dâm đến gặp để quan hệ tình dục sau đó bỏ trốn. H sử dụng số điện thoại 0856500592 lập tài khoản Zalo tên “Thủy Min” và đăng bài trên mạng xã hội tuyển người đi tiệc A (nghĩa là đi bán dâm) ở P rồi để lại số điện thoại 0865500592 để ai có nhu cầu thì liên hệ. Ngày 18/12/2022, chị Khổng Thị H dùng tài khoản Zalo “Hiền mèo” nhắn tin vào Zalo “Thủy Min” của H để liên hệ đi bán dâm với khách. H giả vờ là nữ giới, giới tH với chị H tên là Thủy chuyên môi giới mua bán dâm cho khách hàng quan chức, H báo mức giá bán dâm là 10.000.000đ/lượt đi qua đêm cùng khách, chị H đồng ý. Sau khi vào vai “Thủy Min”, H bảo chị H có khách mua dâm hẹn lúc 20 giờ ngày 21/11/2022 tại Tòa nhà X đồng thời H sử dụng số điện thoại 0367417455 lập tài khoản Zalo khác tên phiên âm tiếng Trung là “Phan Chuẩn Peo” (là tên của H viết bằng tiếng Trung Quốc) giả làm khách mua dâm để nhắn tin cho chị H và giới tH với chị H tên là Hiếu, đang làm Thanh tra Chính phủ, là người thiếu thốn tình cảm, muốn mua dâm chị H dài hạn với giá 60.000.000đ/tháng và hứa hẹn nếu chị H ngoan và biết chiều chuộng thì sẽ mua nhà, mua xe cho chị H, do tin tưởng lời H nói là thật nên chị H đồng ý. Ngày 21/12/2022, H lên mạng đặt thuê căn hộ số 2219 Tòa X của chị Đặng Thị H (Sinh năm 1992, HKTT:, P) với giá 500.000đ/ngày và hẹn chị H đến để quan hệ tình dục tại đây. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Hiền đến căn hộ trên gặp H và cả 2 quan hệ tình dục với nhau. Sau khi quan hệ tình dục xong, H nhìn thấy chị H có chiếc điện thoại Iphone 12 promax màu trắng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trên. H đưa cho chị H 01 thẻ ngân hàng VP Bank và nói dối trong thẻ hiện đang có số tiền 300.000.000đ và nói hôm sau sẽ bảo Thủy dẫn Hiền đi rút tiền, mua sắm thoải mái. Đến 09 giờ ngày 22/12/2022, H gọi taxi để bảo đưa chị H đến F và bảo với Hiền là Thủy đã đợi Hiền ở đó. H giả vờ bảo chị H đưa điện thoại Iphone 12 Promax cho H để kiểm tra xem Hiền có yêu ai khác không, nếu chị H không có ai thì H mới chấp nhận bao nuôi và yêu cầu chị H đọc mật khẩu điện thoại. Chị H tin tưởng H nói thật nên đưa điện thoại cho H, khi chị H hỏi mật khẩu của thẻ Ngân hàng thì H nói chị H cứ lên taxi đi đến địa chỉ F để gặp Thủy thì H sẽ đọc mật khẩu để rút tiền. Sau khi lấy được điện thoại của Hiền, H thoát Iclould của Hiền và đăng nhập Icloud của mình vào máy và sử dụng chiếc máy trên. Sau khi chị H đến 286 Nguyễn Trãi nhưng không tìm thấy ai tên Thủy và không rút được tiền trong thẻ ngân hàng mà H đưa nên chị H mới biết mình bị lừa. Ngày 23/12/2022, chị H có nhắn tin xin lại máy điện thoại nhưng H không trả, đồng thời H đe dọa sẽ gửi các đoạn tin nhắn của 2 người có ảnh, video khỏa thân của chị H cho gia đình, bạn bè chị H mục đích để chị H không dám đòi điện thoại và tiếp tục phục vụ nhu cầu tình dục cho H và nảy sinh ý định đe dọa để chiếm đoạt tiền của chị H. Sau đó, H tiếp tục sử dụng tài khoản Zalo “Thủy Min” nhắn tin với Hiền, giả vờ nói sẽ giúp Hiền giải quyết vụ việc và bảo chị H hiện lái xe của Hiếu đang cầm chiếc điện thoại của chị H, để giải quyết vụ việc chị H phải đưa cho lái xe số tiền 120.000.000đ để lái xe sẽ đập hỏng chiếc điện thoại nhưng do chị H nói không có tiền nên H tiếp tục nhắn tin yêu cầu chị H chuẩn bị 25.000.000đ, còn số tiền 90.000.000đ còn lại “Thủy Min” sẽ lo giúp vì Thủy là người giới thiệu, đồng thời H tiếp tục sử dụng Zalo “Phan Chuẩn Peo” (phiên âm tiếng Trung Quốc) để kết bạn với mẹ chị H và chụp ảnh “Đã kết bạn” gửi cho chị H với mục đích tạo áp lực đến chị H để chị H phải chuyển tiền cho H. Ngày 02/01/2023, chị H do không có tiền lại bị đe dọa nên đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc.
Ngày 05/01/2023, H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S bắt khẩn cấp về hành vi cưỡng đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu trắng, IEMEI: 355660527731717.
- 01 điện thoại Realme màu xanh, IMEI: 867092041099697.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KLĐGTS ngày 16/01/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự quận S xác định: Chiếc điện thoại Iphone 12 promax màu trắng đã qua sử dụng, trị giá 14.000.000đ; 01 sim điện thoại 0854223698 trị giá: 25.000đ. Tổng giá trị tài sản H chiếm đoạt là 14.025.000đ.
Tại Cơ quan điều tra, H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đối với hành vi mua dâm và hành vi bán dâm của H và chị Khổng Thị H: Ngày 15/02/2023, Cơ quan Công an quận S đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H và Khổng Thị H về hành vi mua dâm và bán dâm theo quy định tại Điều 24 và 25 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh chủ căn hộ X là chị Đặng Thị H (sinh năm 1992). Do đi công tác trong thời gian dài, chị H đăng bài cho thuê căn hộ trên mạng xã hội. H thấy thông tin trên nên đã sử dụng Zalo “Thủy Min” thuê căn hộ trên từ ngày 21/12/2022 đến ngày 22/12/2022 với giá 500.000đ. Khi cho thuê hai bên không ký hợp đồng, H thỏa thuận thanh toán tiền thuê qua ví Momo đến tài khoản Ngân hàng Quân đội (MB Bank) số 08238266666 của chị H, sau khi nhận được tiền thuê chị H gửi lại chìa khóa phòng cho khách thuê tại hòm thư Phòng X, chị H không biết H thuê căn hộ trên đề thực hiện hành vi mua bán dâm, do vậy Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Tiến hành xác minh số thuê bao 0856500592 mà H sử dụng, đăng ký thuê bao đứng tên anh I (Sinh năm: 1972). Xác minh tại Công an xã Bảo H, không có công dân tên I do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý.
Đối với hành vi H dùng ảnh, video khỏa thân của chị H nhằm mục đích ép chị Khổng Thị H phải đưa số tiền 25.000.000đ và ép chị H phải quan hệ tình dục với H. Tuy nhiên, do chị H trình báo Cơ quan Công an về hành vi của H nên H chưa thực hiện được tội phạm đến cùng, do vậy H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cưỡng đoạt tài sản” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự.
Về dân sự: Chị Khổng Thị H đề nghị được trả lại điện thoại Iphone 12 Promax.
Tại bản cáo trạng số 109/CT-VKSNTL ngày 18/4/2023 của VKSND quận S, thành phố P đã truy tố bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 BLHS và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 BLHS;
Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội; Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm các tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 174, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 51 đối với tội “Cưỡng đoạt tài sản”, Điều 38, 55, 46, 47, 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 21 đến 24 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, từ 18 đến 21 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ đến 39 đến 45 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động H Realme màu xanh, IMEI: 867092041099697. Trả lại chị H 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu trắng, IMEI: 355660527731717. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Người bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, quá trình điều tra chị H đã có lời khai thể hiện: Sau khi bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị, sau đó còn có hành vi cưỡng đoạt tài sản. Bị cáo đã chiếm đoạt của chị 01 điện thoại Iphone 12. Chị đề nghị xét xử bị cáo theo pháp luật, về dân sự, chị đề nghị xin lại chiếc điện thoại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có tại hồ sơ vụ án, HĐXX nhận định: Lời khai nhận tội của bị cáo tại hồ sơ vụ án hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ, lời khai của người bị hại và các tài liệu thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 22/12/2022 tại tòa nhà I4 Vinhome Smartcity, Tây Mỗ, quận S, P, H đã có hành vi gian dối để chị Khổng Thị H tin tưởng đưa điện thoại sau đó bị cáo đã chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu trắng trị giá 14.025.000đ của chị Khổng Thị H. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại của chị H, H tiếp tục sử dụng hình ảnh, clip khỏa thân của chị H đe dọa sẽ gửi cho gia đình uy hiếp ép chị Khổng Thị H phải đưa cho H số tiền 25.000.000đ. Tài sản chưa chiếm đoạt được.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào các tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 BLHS và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 BLHS.
Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng nơi xảy ra tội phạm.
Về nhân thân của bị cáo: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại xin được nhận lại chiếc điện thoại bị cáo đã chiếm đoạt, xét yêu cầu của chị H là chính đáng nên được chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Trả lại chị H 01 điện thoại di động H Iphone 12 Promax màu trắng, tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động H Realme màu xanh bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo H phạm các tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 174, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 55, 46, 47, 48 BLHS; Điều 106, 136, 326 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: H 24 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 39 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2023.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động H Realme màu xanh, IMEI: 867092041099697. Trả lại chị H 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu trắng, IMEI: 355660527731717. (Đặc điểm vật chứng đúng như biên bản giao nhận vật chứng số 168 ngày 20/4/2023 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận S).
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND thành phố P; -VKSND cùng cấp; - Thi hành án, Công an quận; - Bị cáo, người bị hại; - Lưu hồ sơ, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn V |