vanban.org

Bản án 114/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 01/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Dũng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2023/HS-ST
Ngày: 01/8/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thanh Đào

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dƣơng Minh D

2. Bà Trần Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 556/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D (tên gọi khác: D Bóng), sinh ngày 26/10/1979, tại Cần Thơ; Nơi cư trú: Điện Biên Phủ, phường Tân An, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở: khu vực Yên Thuận, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: bán xôi; Con ông: Nguyễn Hữu P, không rõ năm sinh (chết) và bà Đào Thị L, sinh năm 1960 (sống); Anh, chị, em ruột: 03 người, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1983; Chưa có vợ con.

Tiền sự: không. Tiền án: không.

Nhân thân:

- Ngày 25/9/2001 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 14/9/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xử 7 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.

- Ngày 26/6/2017 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xử 3 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bà Nguyễn Cẩm L, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp An Thường, xã An Thạnh 1, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 21/11/2022, Nguyễn Văn D đến Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ đề khám bệnh, trong quá trình chờ khám bệnh thì lúc này D nhìn thấy bà Nguyễn Cẩm L có để điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen trong áo khoác bên phải nên nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại của bà L. Sau đó, D lợi dụng chỗ đông người, chen lấn, bà L không để ý, D áp sát bà L rồi dùng tay lấy điện thoại trong túi áo khoác của bà L rồi nhanh chóng rời đi, trên đường đi D nhặt túi giấy có quai xách bỏ điện thoại vào rồi đi ra cổng bệnh viện. Sau khi bà L phát hiện điện thoại bị mất nên bà thông báo đến bảo vệ đang trực ở cổng bệnh viện. Đến 10 giờ bà L đến Công an phường Xuân Khánh trình báo vụ việc.

Qua trích xuất camera bảo vệ phát hiện D có nghi vấn nên mời làm việc. Qua làm việc D thừa nhận hành vi lấy trộm điện thoại của bà Lành, bảo vệ thu giữ điện thoại và giao D cho Công phường xử lý.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen, số Imei: 357026895832644; 01 túi xách bằng giấy có quai xách.

Tại Kết luận định giá tài sản số 2271/KL-HĐĐG ngày 28/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân quận Ninh Kiều xác định: điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 có giá trị 2.300.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn D thừa nhận hành vi phạm tội.

Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, màu đen cho bà Nguyễn Cẩm L.

Về trách nhiệm dân sự, bà Nguyễn Cẩm L đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác.

Tại bản Cáo trạng số: 127/CT-VKSNK ngày 16/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên Tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 09 tháng đến 01 năm tù. Về xử lý tang vật, vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử lý theo quy định pháp luật như sau:

- Đối với 01 túi xách bằng giấy có quai xách, đây là vật dụng bị cáo che giấu cho việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do đó tịch thu tiêu hủy;

- Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, màu đen cho bà Nguyễn Cẩm L;

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức về việc làm của bị cáo đã vi phạm pháp luật. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Điều này cho thấy: Vào khoảng 08 giờ ngày 21/11/2022, bị cáo đã lợi dụng sở hở của bị hại, bị cáo lén lút lấy trộm tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, màu đen; Tại Kết luận định giá tài sản số 2271/KL-HĐĐG ngày 28/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân quận Ninh Kiều xác định: điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 có giá trị 2.300.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Về nhân thân: bị cáo nhiều lần chịu hình phạt, bị cáo còn tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, bị cáo có nhân thân không tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo đã thành niên, có đủ năng lực hành vi, có sức khỏe và khả năng lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người bị hại để lén lút lấy trộm tài sản. Bị cáo biết rõ lấy trộm tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ và xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung.

Vì vậy, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách bằng giấy có quai xách.

+ Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, màu đen cho bà Nguyễn Cẩm L;

- Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách bằng giấy có quai xách.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng vụ án số: 98/QĐ-VKSND-NK ngày 16/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ);

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ