- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đình N trộm cắp tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về án phí phúc thẩm: bị cáo Đặng Đình N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2023/HS-PT Ngày: 28-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang
- Các Thẩm phán: ông Nguyễn Việt Hùng và ông Đặng Văn Quyết;
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 28/7/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 133/TLPT-HS ngày 4/5/2023 đối với bị cáo Đặng Đình N, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế đối với bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HS – ST ngày 27/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Họ và tên bị cáo: Đặng Đình N, sinh năm 1996 (tên gọi khác: không); Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm 3, xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 02/12; Con bà Đặng Thị Biên (đã chết); không xác định được họ tên bố; Bị cáo chưa có vợ con và là con duy nhất trong gia đình; Tiền sự: không
Tiền án: tại bản án số 17/2016/HSST ngày 28/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 05 năm tù về tội Cướp giật, 01 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2020, chấp hành xong án phí ngày 11/5/2016.
- Tại bản án số 56/2020/HSST ngày 21/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/03/2022, chấp hành xong án phí ngày 14/6/2021.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2022 hiện đang chấp hành án tại trại giam Thanh Lâm (có mặt tại phiên tòa).
Trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không liên quan đến kháng nghị, Tòa phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: từ ngày 07/10/2022 đến ngày 11/10/2022, Đặng Đình N đã thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện G, tỉnh N và hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Vụ thứ nhất: khoảng 0 giờ 30 phút ngày 07/10/2022, N đi bộ từ nhà sang nhà chị Nguyễn Thị Y ở xóm 3, xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình mục đích trộm cắp tài sản. N trèo qua hàng rào ở trước cổng chính sau đó trèo lên mái tôn của nhà để xe, đi theo mái tôn ra phía sau nhà. Sau đó, N chui qua ô trống ở vị trí giáp mái che ban công tầng 2 vào bên trong ban công để đột nhập vào nhà chị Y. Khi vào trong nhà, N đi theo cầu thang xuống tầng 1 vào phòng ngủ ở phía trước nhà thấy có 1 tủ gỗ loại tủ đứng treo quần áo, không khóa. N mở cửa tủ, lục tìm trong túi chiếc áo vest màu xanh đen có số tiền 600.000 đồng, N lấy số tiền đó đút vào túi quần. Sau đó, N đi xung quanh nhưng không tìm được tài sản nào nên N lên tầng 2, vào phòng ngủ ngay phía bên trái cầu thang. Lúc này, trong phòng có chồng chị Y và hai con đang ngủ say dưới sàn nhà. N tiến lại giường ngủ lấy 01 chiếc điện thoại di động Sam Sung Galaxy A13 đang được sạc pin ở cuối giường đút vào túi quần. Sau đó, N mang theo tiền, điện thoại vừa lấy được đi ra ban công, trèo qua ô trống hàng rào sắt để ra mái tôn rồi thoát ra bên ngoài theo cách thức đã đột nhập vào.
Đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, N đi bộ ra đường 477 bắt xe khách đi thành phố Hà Nội rồi vào một cửa hàng thu mua điện thoại cũ (N không nhớ tên, địa chỉ của quán) bán chiếc điện thoại trộm cắp tại nhà chị Y được 1.100.000 đồng. Sau đó, N ở thành phố Hà Nội đến ngày 08/10/2022 thì bắt xe đi đến huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang chơi. Số tiền trộm cắp và tiền bán điện thoại được N đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 07/10/2022, chị Y trình báo sự việc đến Công an xã Liên Sơn, huyện Gia Viễn và giao nộp 01 vỏ hộp điện thoại màu trắng; 02 thẻ nhớ nằm trong 02 chiếc camera của gia đình chị Y lưu giữ hình ảnh Đặng Đình N vào nhà chị trộm cắp tài sản. Ngày 13/10/2022, Công an xã Liên Sơn, huyện Gia Viễn chuyển nguồn tin đến Công an huyện Gia Viễn.
Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KLĐG-HĐ ngày 02/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gia Viễn kết luận: giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A13 là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Về trách nhiệm dân sự: chị Y không yêu cầu N bồi thường.
Vụ thứ hai: hồi 10 giờ 30 phút ngày 11/10/2022, tại khu vực quán nước trước cổng UBND xã Tam Hiệp thuộc thôn Yên Thế, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an huyện Yên Thế tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Đặng Đình N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên trong có đựng 07 (bảy) túi nilon màu trắng đều có một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh bên trong tất cả 07 (bảy) túi nilon mỗi túi đều đựng 01 (một) viên nén hình tròn mầu hồng đỏ và tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy) được thu giữ bên trong túi quần phía trước bên trái của N đang mặc, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”; 01 điện thoại di động OPPO màu đen có ốp lưng màu trắng, 01 căn cước công dân mang tên Đặng Đình N được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1”; số tiền 175.000 đồng. Đấu tranh tại chỗ, N khai nhận bên trong 07 (bảy) túi nilon nêu trên đều là ma túy N mua về để sử dụng. Tổ công tác cho N giám sát vật chứng rồi đưa về trụ sở Công an huyện Yên Thế để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định.
Ngày 11/10/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Thế đã tiến hành khám xét nơi ở của N. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 1845/KL - KTHS ngày 13/10/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT”, đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng và các viên nén màu hồng đỏ đựng trong 07 (bảy) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh (bên ngoài là 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ) đều là ma túy, có tổng khối lượng 1,781 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra N khai nhận: năm 2020, N đi chấp hành án phạt tù tại trại giam Lam Sơn nên quen với Trần Xuân Kết, sinh năm 1989 ở thôn Đồng Mơ, xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang cũng chấp hành án tại đó. Kết bảo với N là nhà Kết ở thị trấn Cầu Gồ, huyện Yên Thế (nay là thị trấn Phồn Xương), muốn lên chơi với Kết thì bắt xe khách về thị trấn Cầu Gồ hỏi địa chỉ thì có người chỉ đến tận nhà. Chiều ngày 08/10/2022, N đi xe khách từ Hà Nội đến thị trấn Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang để tìm đến nhà Kết chơi. Khi N đến ngã tư thị trấn Phồn Xương thì gặp Kết đang đi cùng Nguyễn Văn Khương, sinh năm 1998 ở bản Trại Nấm, xã Đồng Tiến, huyện Yên Thế. Sau đó N, Kết và Khương nói chuyện một lúc thì Kết đi có việc, N đi cùng Khương đến nhà Khương chơi và nghỉ ngơi tại đó.
Khoảng 10 giờ ngày 11/10/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên N nhờ Khương tìm nơi để mua ma túy, Khương đồng ý và chở N đến đầu cầu Đồng Vương thuộc bản Tràng Bắn, xã Đồng Vương, huyện Yên Thế. Khương bảo N cứ đợi ở đó có thằng ra thì hỏi mua, sau đó Khương đi đâu thì N không rõ. N đứng đợi khoảng 15 phút thì thấy một người đàn ông lạ mặt đầu trọc đeo khẩu trang, hai tay xăm kín. N nghĩ người đó có ma túy nên hỏi người đàn ông này là “Anh ơi có đồ không để cho em ít” nghĩa là hỏi mua ma túy thì người đàn ông lạ mặt trả lời “Mua bao nhiêu”. Thấy vậy, N liền bảo “Em lấy một triệu tư” và đồng thời đưa cho số tiền 1.400.000 đồng thì người đàn ông lạ mặt đưa cho 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên trong có đựng 07 (bẩy) túi nilon màu trắng đều có một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh bên trong tất cả 07 (bẩy) túi nilon mỗi túi đều đựng 01 (một) viên nén hình tròn mầu hồng đỏ và tinh thể màu trắng. N cầm những túi nilon này, biết là ma túy nên N cất giấu vào túi quần phía trước bên trái rồi đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến quán nước trước cổng UBND xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế ngồi uống nước. Khi N đang ngồi uống nước thì bị lực lượng Công an huyện Yên Thế bắt quả tang, đồng thời thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.
Nguyễn Văn Khương khai nhận: buổi sáng ngày 11/10/2022, N nhờ Khương chở N ra ngoài để đi về. Tuy nhiên, khi Khương chở N đến gần cầu Đồng Vương thì N bảo Khương dừng xe lại. N xuống xe và bảo Khương đi về, còn N ở lại đó làm gì thì Khương không biết. Cơ quan điều tra cho N và Khương đối chất nhưng cả hai vẫn giữ nguyên lời khai nên không có căn cứ xử lý Khương.
Với nội dung như trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HSST ngày 27/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đã quyết định: căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đặng Đình N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/10/2022.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong chứa ma túy ký hiệu “QT”, 01 vỏ hộp điện thoại; Truy thu của bị cáo Đặng Đình N số tiền 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng); Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động OPPO (có ốp lưng); 01 căn cước công dân mang tên Đặng Đình N và số tiền 175.000đ nhưng tạm giữ 01 điện thoại di động OPPO (có ốp lưng) và số tiền 175.000đ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Án xử xong, ngày 10/4/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế có Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không truy thu của bị cáo N số tiền 1.100.000 đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS ngày 10/4/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, đề nghị HĐXX phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm không truy thu của bị cáo Đặng Đình N số tiền 1.100.000 đồng.
Tham gia phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đồng ý với nội dung kháng nghị trên và không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét nội dung kháng nghị HĐXX thấy: số tiền 1.100.000 đồng mà bị cáo Đặng Đình N có được là tiền bị cáo bán tài sản chiếm đoạt được của bị hại là chị Nguyễn Thị Y, theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thì số tiền trên không thuộc trường hợp phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước mà bị cáo phải trả lại cho chị Y. Tuy nhiên chị Y không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên, đây là sự tự nguyện của chị Y nên cần được ghi nhận.
Tòa án cấp sơ thẩm không ghi nhận ý kiến này của chị Y trong bản án và nhận định số tiền 1.100.000 đồng là tiền bị cáo bán tài sản chiếm đoạt được của chị Y và chi tiêu hết, nay bị cáo không phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường do bị hại không yêu cầu nên đây được coi là tiền thu lời bất chính và truy thu số tiền trên của bị cáo Đặng Đình N là không đúng quy định của pháp luật, gây bất lợi cho bị cáo.
Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang , sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Đặng Đình N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử: sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HSST ngày 27/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang về phần xử lý vật chứng: không truy thu của bị cáo Đặng Đình N số tiền 1.100.000 đồng.
2. Về án phí phúc thẩm: bị cáo Đặng Đình N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh Bắc Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang; - CA-TA-CCTHADS sơ thẩm; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |