- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D đối với bị đơn ông Đỗ Muôn K về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-9-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Minh Lý.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 245/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1981; địa chỉ: Số D, đường Đ, tổ D, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Muôn K, sinh năm 1979; địa chỉ: Số D, đường Đ, tổ D, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:
Bà Nguyễn Thị D và ông Đỗ Muôn K là vợ chồng, đăng ký kết hôn năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2016, ngày 19 tháng 10 năm 2016. Thời gian đầu sau khi kết hôn, bà D và ông K chung sống hạnh phúc nhưng khoảng từ năm 2018 đến nay thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vấn đề kinh tế của gia đình; ông K không chăm lo làm ăn và không phụ giúp bà D chăm sóc các con chung. Mặc dù sống chung trong gia đình nhưng cả hai không còn quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau thực hiện các công việc chung trong gia đình. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông K.
Về con chung: Bà D và ông K có 02 con chung tên Nguyễn Huyền M, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2009 và Đỗ Huyền A, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2017. Hiện nay con chung đang sống cùng với bà D và ông K tại địa chỉ số D, đường Đ, tổ D, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Theo đơn khởi kiện, bà D yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi con 2.500.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Quá trình giải quyết vụ án, bà D xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đỗ Muôn K được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông K không đến Tòa án nhân dân thành phố T làm việc, không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án, vì vậy Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bị đơn ông K về việc giải quyết vụ án.
Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 12 tháng 7 năm 2023, cháu Nguyễn Huyền M trình bày: Hiện nay cháu M đã học xong lớp 8 Trường Trung học cơ sở P tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, cháu M đang chuẩn bị lên lớp 9; cháu M đang sống cùng với ba, mẹ, em gái của cháu M. Cháu M thương cả ba và mẹ nhưng cháu M thương mẹ nhiều hơn vì ba thường hay cải nhau với mẹ và la mắng mẹ; nguyên nhân cải nhau là do ba không phụ giúp mẹ các công việc trong gia đình. Giả sử vì một lý do gì đó mà ba và mẹ không thể sống cùng với nhau thì cháu M có nguyện vọng được sống cùng mẹ và em gái.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn vi phạm nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.
Về nội dung: Bà D và ông K có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2016, ngày 19 tháng 10 năm 2016. Hôn nhân của bà D và ông K là hợp pháp. Bà D cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên cải vã, ông K không lo làm ăn; ông K được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đồng ý nhận văn bản và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; điều này đã chứng minh ông K không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân, không muốn giải quyết mâu thuẫn để vợ chồng chung sống hòa thuận. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà D và ông K đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn bà D yêu cầu được ly hôn với ông K là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà D và ông K có 02 con chung tên Nguyễn Huyền M, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2009 và Đỗ Huyền A, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2017. Khi ly hôn, bà D có yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung. Hiện nay cháu A và cháu M đang sống cùng với bà D, cháu M có nguyện vọng được sống cùng với mẹ và em gái sau khi cha mẹ ly hôn, ông K không có ý kiến yêu cầu được nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Do đó, để tránh xáo trộn trong sinh hoạt và không ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ, tạo điều kiện về mọi mặt cho trẻ phát triển bình thường; căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần giao cháu M và cháu A cho bà D nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo đơn khởi kiện, bà D yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi con 2.500.000 đồng/tháng; quá trình giải quyết vụ án, bà D đã thay đổi ý kiến, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, do đó không xem xét về vấn đề cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề xem xét.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông K nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông K đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn bà D có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, bị đơn ông K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa vào các ngày 06 tháng 9 năm 2023 và 28 tháng 9 năm 2023 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà D và ông K.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông K tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2016, ngày 19 tháng 10 năm 2016. Hôn nhân của bà D và ông K là hợp pháp.
Bà D cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung; ông K không chăm lo làm ăn và chăm lo vấn đề kinh tế của gia đình; bà D và ông K mặc dù sống chung trong gia đình nhưng cả hai không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau thực hiện các công việc chung trong gia đình; do đó bà D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông K.
Hội đồng xét xử xét thấy qua xác minh tại địa phương để xác định nguyên nhân mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của vợ chồng bà D và ông K thì địa phương không rõ vì vợ chồng bà D và ông K không trình báo với địa phương về vấn đề mâu thuẫn gia đình. Tuy nhiên thực tế, tình cảm vợ chồng giữa bà D và ông K đã không còn nên bà D mới khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông K; ông K được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để tham gia tố tụng, cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án, chứng tỏ ông K cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà D. Cháu M (con bà D và ông K) cũng trình bày quá trình chung sống, giữa bà D và ông K thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã; nguyên nhân mâu thuẫn là do ông K không phụ giúp bà D chăm lo cho gia đình. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà D và ông K đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn; mục đích hôn nhân giữa bà D và ông K không đạt được. Do đó yêu cầu của bà D về việc được ly hôn với ông K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà D và ông K có 02 con chung tên Nguyễn Huyền M, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2009 và Đỗ Huyền A, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2017. Hiện nay con chung đang sống cùng với bà D và ông K tại địa chỉ số D, đường Đ, tổ D, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông Đỗ Muôn K cấp dưỡng nuôi con; cháu M có nguyện vọng được sống cùng với bà D và em gái.
Hội đồng xét xử xét thấy cháu A còn rất nhỏ, chỉ mới hơn 6 tuổi, cần sự chăm sóc của người mẹ hơn; cháu M có nguyện vọng được sống cùng với mẹ và em gái. Quá trình giải quyết vụ án, ông K cũng không có ý kiến về việc có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung hay không. Do đó, để đảm bảo sự điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của cháu M, cháu A; đồng thời tạo điều kiện cho các cháu được sống cùng với nhau, cùng yêu thương, chăm sóc nhau thì cần giao cháu M, cháu A cho bà D nuôi dưỡng. Bà D yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà D phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D đối với bị đơn ông Đỗ Muôn K về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D được ly hôn với ông Đỗ Muôn K.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huyền M, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2009 và cháu Đỗ Huyền A, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2017 cho bà Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt vấn đề giải quyết.
Bà Nguyễn Thị D và ông Đỗ Muôn K được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai được quyền cản trở. Trường hợp ông Đỗ Muôn K lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của bà Nguyễn Thị D thì bà Nguyễn Thị D có quyền yêu cầu hạn chế quyền thăm nom con của ông Đỗ Muôn K theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt vấn đề giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0003132 ngày 14 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố T; - Chi cục THADS thành phố T; - Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hằng |