- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đặng Kim O, anh Đỗ Văn C xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức t…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 114/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/03/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhâm
Các Hội thẩm nhân dân : Bà Trần Thị Oanh
Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Lưu Thị Dáng Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/01/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 03 năm 2023 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Kim O, sinh năm: 1986;
- Bị đơn: Anh Đỗ Văn C, sinh năm: 1980;
Cùng địa chỉ: Số X, ngách Y, TDP Z, đường H, phường P, quận N, thành phố H.
(Có mặt chị O, anh C)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Đặng Kim O trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn C kết hôn với nhau ngày 16/11/2007 tại UBND xã X (nay là phường P, quận N, thành phố H). Quá trình chung sống đến khoảng đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn do cả 02 vợ chồng không còn quan tâm đến tình cảm vợ chồng. Chị và anh C đã sống ly thân. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh C. Chị đề nghị được ly hôn với anh Đỗ Văn C.
Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung là Đỗ Quang V, sinh ngày 24/8/2008 và Đỗ Bảo T, sinh ngày 06/8/2012. Ly hôn chị đề nghị được nuôi cháu Đỗ Bảo T, còn cháu Đỗ Quang V giao cho anh Đỗ Văn C nuôi dưỡng hoặc theo nguyện vọng của các cháu mong muốn ở với ai chị cũng đồng ý. Nếu mỗi người nuôi 01 con thì về cấp dưỡng nuôi con chung, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung vợ chồng: Chị và anh C không có tài sản chung vợ chồng với nhau, vì vậy không yêu cầu giải quyết.
Về công nợ chung vợ chồng: Chị và anh C không yêu cầu giải quyết .
Về án phí: Chị đồng ý chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm.
- Bị đơn anh Đỗ Văn C trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Đặng Kim O, kết hôn với nhau ngày 16/11/2007 tại UBND xã X (nay là phường P, quận N, thành phố H). Quá trình chung sống đến khoảng tháng 7/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ anh có ngoại tình đi theo người đàn ông khác nhưng anh không có tài liệu chứng cứ. Nay chị O có đơn xin ly hôn anh không đồng ý ly hôn để vợ chồng đoàn tụ cùng nuôi các con, mặt khác anh xác định vẫn còn tình cảm với chị O, vì vậy không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị O có 02 con chung là Đỗ Quang V, sinh ngày 24/8/2008 và Đỗ Bảo T, sinh ngày 06/8/2012. Nếu phải ly hôn anh đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu chị O phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung vợ chồng: Anh không có tài sản chung vợ chồng không yêu cầu giải quyết.
Về công nợ chung vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Tôi không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Đặng Kim O trình bày: Chị và anh C đã mâu thuẫn, Anh C đã đánh chị nhiều lần, lần anh C đánh chị ở quán cắt tóc chị đã cung cấp tại bản vi bằng nộp cho Tòa án. Chị xác định tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị Yêu cầu Tòa án xem xét nguyện vọng của các cháu để giải quyết. Chị không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đỗ Văn C trình bày: Từ khi anh và chị O kết hôn thì vợ chồng sống thuận hòa đến tháng 07 năm 2021 chị O thông báo có người đàn ông khác từ thời điểm đó vợ chồng cãi nhau, tôi có tát vợ hai cái. Từ tháng 8 năm 2022 là chị O bỏ ra ngoài sinh sống. Trước thời điểm mở phiên tòa tôi có nói với chị O về đoàn tụ thì tôi lấy lại quán cắt tóc gội đầu cho chị O làm nhưng vợ tôi không đồng ý. Tôi xác định vẫn còn tình cảm và muốn vợ chồng về đoàn tụ. Tôi không đồng ý ly hôn.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến: Việc thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án tại phiên tòa sơ thẩm cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện mâu thuẫn vợ chồng là nhỏ, nguyên đơn có quan hệ ngoại tình nhưng bị đơn vẫn mong muốn hàn gắn để cùng chăm sóc con cái, bị đơn không đồng ý ly hôn phù hợp với nguyện vọng của con, phù hợp với ý kiến tổ dân phố, phòng LĐTBXH đề nghị HĐXX bác đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đặng Kim O có đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm giải quyết yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Văn C; Nơi ĐKNKTT: Số X, ngách Y, TDP Z, đường H, phường P, quận N, thành phố H. Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thụ lý giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Kim O:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Kim O và anh Đỗ Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng kí kết hôn ngày 16/11/2007 tại UBND xã X (nay là phường P, quận N, thành phố H). Vợ chồng mâu thuẫn từ tháng 7 năm 2022, hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2022 đến nay, chị O yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh C không đồng ý ly hôn.
Hội đồng xét xử nhận định giữa chị Đặng Kim O, anh Đỗ Văn C cuộc sống chung của vợ chồng mâu thuẫn, vợ chồng đã đánh chửi nhau nhiều lần, vợ chồng đã ly thân. Anh Đỗ Văn C, chị Đặng Kim O đã vi phạm quyền chung sống với nhau, không thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có đủ căn cứ để chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Đặng Kim O, việc cho chị Đặng Kim O được ly hôn với anh Đỗ Văn C là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị Đặng Kim O và anh Đỗ Văn C có 02 con chung là Đỗ Quang V, sinh ngày 24/8/2008 và Đỗ Bảo T, sinh ngày 06/8/2012. Anh C yêu cầu được được nuôi dưỡng cả 02 con chung. Chị O yêu cầu Tòa án xem xét nguyện vọng của các con. Hội đồng xét xử nhận định: Anh C và chị O có hai con chung, cháu V có đơn xin được ở với bố, cháu T có đơn xin được ở với mẹ. Xét nguyện vọng của hai con và nhu cầu thực tế của các cháu cần giao cháu Đỗ Quang V cho anh Đỗ Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn, cần giao cháu Đỗ Bảo T cho chị Đặng Kim O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Anh Đỗ Văn C và chị Đặng Kim O không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp Điều 81 luật hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Đặng Kim O, anh Đỗ Văn C không yêu cầu Toà án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Đặng Kim O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[4] Về quyền kháng cáo Anh Đỗ Văn C và chị Đặng Kim O được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Kim O
- Chị Đặng Kim O được ly hôn với anh Đỗ Văn C.
- Về con chung: Giao cháu Đỗ Quang V, sinh ngày 24/08/2008 cho anh Đỗ Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Giao cháu Đỗ Bảo T, sinh ngày 06/8/2012 cho chị Đặng Kim O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đỗ Văn C, chị Đặng Kim O không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Đặng Kim O, anh Đỗ Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Đặng Kim O phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai số: 0034957 ngày 28/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.
-Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Kim O, anh Đỗ Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Nhâm
| Nơi nhận : - TAND Tp. Hà Nội; - VKSND Q. Nam Từ Liêm, - VKSND Tp. Hà Nội; - Chi cục THADS Q. Nam Từ Liêm; - UBND phường Phương Canh( số 134/16/11/2007) - Các đương sự; - Lưu văn phòng | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Nhâm |