- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị H và anh Q"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lê Văn Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 9 - 2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Nhàn.
Ông Vũ Văn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 77/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; ĐKTT: Số 84 H, phường T, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số 82 đường A, thôn A, xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Văn Q, sinh năm 1976; ĐKTT: ĐKTT: Số 84 H, phường T, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số 82 đường A, thôn A, xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị H và anh Q tự nguyện xây dựng gia đình với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Hải, huyện An Hải (nay là phường Nam Hải, quận Hải An), thành phố Hải Phòng, theo giấy chứng nhận kết hôn số 8 ngày 22/01/2002.
Sau khi kết hôn, vợ chồng mua nhà và chung sống thôn tại thôn An Dương, xã An Đồng, huyện An Dương. Quá trình chung sống đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn trở lên căng thẳng nên sau đó vợ chồng sống ly thân, không còn trách nhiệm với nhau nữa. Nay chị H xác nhận: Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Thị Thanh M, sinh năm 2003 đã thành niên và Lê Văn Q, sinh ngày 16/01/2008. Chị H yêu cầu được nuôi cháu Quyền. Việc cấp dưỡng cho con hai bên tự thoả thuận, chị H không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.
Tại Đơn trình bày đề ngày 10/6/2023, cháu Lê Văn Q có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng đồng thời ra thông báo yêu cầu anh Q có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng anh Q không thực hiện.
Tiến hành xác minh tại địa phương, kết quả cho thấy: Chị H và anh Q xây dựng gia đình với nhau năm 2002 có đăng ký kết hôn theo luật định và chung sống tại thôn An Dương, xã An Đồng từ năm 2009 đến nay. Quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng có tính cách không hợp, bất đồng quan điểm và đã sống ly thân với nhau. Nay chị H có yêu cầu ly hôn với anh Q, địa phường đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị H và anh Q có 02 con chung là Lê Thị Thanh M, sinh năm 2003 và Lê Văn Q, sinh ngày 16/01/2008.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng theo quy định của pháp luật, từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ, bị đơn chấp hành chưa đầy đủ quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án thu thập đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị H được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Căn cứ vào các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao con chung Lê Văn Q, sinh ngày 16/01/2008 cho chị H nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận.
Về tài sản chung: Không đề nghị xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Chị H có yêu cầu khởi kiện được ly hôn với anh Q có nơi cư trú tại xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Về thủ tục tố tụng tại Tòa: Bị đơn anh Lê Văn Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị H và anh Q tuân thủ đúng quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét, chị H và anh Q quá trình chung sống bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung và đã sống ly thân, không còn trách nhiệm với nhau cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lê Văn Q.
Về con chung: Chị H và anh Q có 02 con chung là Lê Thị Thanh M, sinh năm 2003 và Lê Văn Q, sinh ngày 16/01/2008. Đối với cháu Mai đã thành niên, chị H không yêu cầu giải quyết, chị H yêu cầu được nuôi cháu Quyền. Xét thấy, chị H là người có công việc, thu nhập nên có đủ điều kiện để nuôi con. Việc giao cháu Quyền cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp điều kiện hoàn cảnh chăm sóc nuôi dạy con, đảm bảo được quyền lợi, nguyện vọng của con cũng như các quy định của pháp luật. Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Giao con chung Lê Văn Q, sinh ngày 16/01/2008 cho chị H nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con, chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lê Văn Q.
- Về con chung: Giao con chung Lê Văn Q, sinh ngày 16/01/2008 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con chị H không yêu cầu giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này chị H đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005146 ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Về quyền kháng cáo:
Chị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Anh Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện An Dương; - VKSND thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Chi cục thi hành án dân sự huyện An Dương; - Các đương sự; - UBND phường Nam Hải, quận Hải An; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Chỉnh |