- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Thu H. Chị Bùi Thị Thu H được ly hôn với anh Trương Ngọc A.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31-8-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viển.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hương Giang.
2. Ông Lê Minh Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 173/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 119/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thu H, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Tổ 11, đường 8/3, ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Anh Trương Ngọc A, sinh năm 1999.
Địa chỉ: ấp 4, xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
(Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/4/2023; bản tự khai ngày 15/5/2023 nguyên đơn là chị Bùi Thị Thu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trương Ngọc A tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 26/3/2020. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình giữa chị và anh A không hợp nhau nên vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung. Chị và anh A đã sống ly thân từ tháng 02/2022 cho đến nay, vợ chồng đã không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh A nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Ngọc A.
- Về con chung: Chị và anh Trương Ngọc A có 02 con chung tên Trương Thiên B, sinh ngày 01/4/2020 và Trương Ngọc M, sinh năm 06/3/2022. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu B và cháu M và không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Trương Ngọc A không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Trương Ngọc A: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án số 173/TB-TLVA ngày 20 tháng 4 năm 2023 cho anh A nhưng không tống đạt trực tiếp được nên Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai Thông báo về việc thụ lý vụ án theo quy định. Anh Trương Ngọc A không có ý kiến trả lời theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành niêm yết giấy triệu tập làm việc, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh A không đến Tòa án làm việc, hòa giải do đó anh A không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật.
Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh A đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; chị H và anh A đã sống ly thân không ai còn quan tâm, chăm sóc cho nhau nên yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
Về con chung: Chị H và anh A có 02 con chung tên Trương Thiên B, sinh ngày 01/4/2020 và Trương Ngọc M, sinh năm 06/3/2022. Cháu B và cháu M hiện đang do chị H nuôi dưỡng, các cháu phát triển bình thường, khỏe mạnh. Vì vậy, để tránh xáo trộn về tinh thần cũng như sự phát triển của các con chung cần tiếp tục giao con chung là cháu B và cháu M cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh A không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Bùi Thị Thu H chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Trương Ngọc A hiện cư trú tại xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Chị Bùi Thị Thu H yêu cầu khởi kiện ly hôn với anh Trương Ngọc A, yêu cầu giải quyết về con chung nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về xác định tư cách đương sự: Chị Bùi Thị Thu H là nguyên đơn; anh Trương Ngọc A là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Bùi Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trương Ngọc A đã được triệu tập hợp lệ hai lần mà vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Chị H và anh A tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 26/3/2020 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị H: Chị H xin ly hôn với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và chị H cũng không còn tình cảm với anh A. Qua thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương thể hiện: Vợ chồng chị H và anh A thật sự có mâu thuẫn, vợ chồng đã không còn chăm lo cho nhau.
Qua xem xét lời trình bày của chị H, chứng cứ Tòa án thu thập được có đủ căn cứ xác định vợ chồng chị H và anh A thật sự đã có mâu thuẫn, vợ chồng đã không còn quan tâm chăm sóc nhau, vi phạm quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dẫn đến hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, anh A không tham gia hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, điều này thể hiện anh A không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng giữa chị H và anh A đã có mâu thuẫn, khả năng đoàn tụ không có nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, giải quyết cho chị H được ly hôn với anh A theo Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị H và anh A có 02 con chung tên Trương Thiên B, sinh ngày 01/4/2020 và Trương Ngọc M, sinh năm 06/3/2022. Qua thu thập chứng cứ thể hiện cháu B và cháu M đang do chị H nuôi dưỡng, cháu B và cháu M phát triển bình thường, khỏe mạnh và hiện đang được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt, cuộc sống đang ổn định dù vợ chồng đã sống ly thân. Mặc khác, cháu B và cháu M còn rất nhỏ dưới 36 tháng tuổi cần có sự gần gũi, chăm sóc của người mẹ. Vi vâ ̣̀ y, giao 02 con chung chưa thành niên là Trương Thiên B, sinh ngày 01/4/2020 và Trương Ngọc M, sinh năm 06/3/2022 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh A không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.
Anh A có quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị H chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 217, 218, 227, 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1) Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Thu H. Chị Bùi Thị Thu H được ly hôn với anh Trương Ngọc A.
2) Về con chung: Giao cháu Trương Thiên B, sinh ngày 01/4/2020 và Trương Ngọc M, sinh năm 06/3/2022 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh A không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.
Anh A có quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3) Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
4) Về án phí: Chị Bùi Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0004299 ngày 20/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Chị H đã nộp đủ án phí.
5) Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Thu H và anh Trương Ngọc A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - Chi cục Thi hành án dân sự Đ; - Các đương sự; - UBND xã S (GCNKH số 23, ngày 26/3/2020); - Lưu hồ sơ vụ án. | Trần Thị Viển |