vanban.org

Bản án 114/2022/HSST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: bị cáo Tạ Anh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2021.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Anh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2021. Xử phạt: bị cáo Phan Kim B 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Tạ Anh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2022/HSST
Ngày: 22/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mai Thị Thanh Hương – Nguyên Hiệu trưởng trường mầm non

Tân Quy, Quận 7.

2. Ông Nguyễn Như Thủy – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên

Trong các ngày 17 và 22 tháng 8 năm 2022 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Tạ Anh T, sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: A Trần Đình X, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Xe ôm; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Tạ Thiên T, sinh năm 1967 và con bà Phạm Thị Ngọc Đ, sinh năm 1979; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 31/7/2020, bị Công an phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt hành chính số: 0009478 về hành vi xâm phạm đến sức khỏe người khác. Tạ Anh T nộp phạt vi phạm hành chính ngày 08/4/2021. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/10/2021 đến nay. (có mặt)

2. Huỳnh Anh H (tên gọi khác là Bi), sinh năm 2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: B Phan Văn T, phường 2, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Huỳnh Cẩm Đ, sinh năm 1979 và con bà Lê Thị Minh T, sinh năm 1981; Nhân thân: Ngày 21/8/2020, bị Công an phường 10, quận Tân Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng. Ngày 16/9/2020, H nộp phạt vi phạm hành chính; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày: 19/11/2021 đến nay. (có mặt)

3. Phan Kim B, sinh năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: C Trần Đình Xu, phường Nguyễn Cư T, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: D Trần Xuân S, phường Tân Kiểng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông (Vô danh) và con bà Phan Ngọc D, sinh năm 1979; Tiền án: tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/7/2021 đến nay. (Bị cáo tại ngoại có mặt)

4. Võ Trần Công M, sinh năm 2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú và cư trú: E KDC Nam L, phường P Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Võ Công L, sinh năm 1957 và con bà Trần Thị Ánh T, sinh năm 1963; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 13/5/2021, bị Công an phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 0004168 về hành vi xâm phạm đến sức khỏe người khác; Nhân thân: Ngày 09/11/2021, bị Công an Phường 6, Quận 4 ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 104 về hành vi gây mất trật tự công cộng. Ngày 01/12/2021, M đóng tiền phạt vi phạm hành chính. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/11/2021 đến nay. (Bị cáo tại ngoại có mặt)

Bị hại: Ông Phan Xuân Anh T, sinh năm 2002; hộ khẩu thường trú: X, huyện Cần Đ, tỉnh Long An; tạm trú: Số Y đường Lê Văn L, phường Tân Phong, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Lê Huỳnh K, sinh ngày 17/7/2006; địa chỉ: Số M đường Nguyễn T, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số N đường Âu Dương L, Phường 1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện của Lê Huỳnh K là bà Cà Thị H, sinh năm 1967; địa chỉ: Số N đường Âu Dương L, Phường 1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Bà Lê Thủy T, sinh năm 2001; địa chỉ: Số O đường Mễ C, Phường 15, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Bà Phan Ngọc Bảo C, sinh năm 2001; địa chỉ: Số P đường 25, khu phố 3 phường Tân Quy, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số Q đường 25A phường Tân Quy Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

- Ông Trần Ích Đ, sinh ngày 25/6/2005; địa chỉ: Số W đường 1A, khu phố 5, phường Tân Thuận Tây, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Ông Phạm Duy P, sinh năm 2003; địa chỉ: Trực Đ, Trực N, Nam Định; tạm trú: Lầu 1 chung cư MM An Dương Vương, Phường 3, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Ông Phạm Thái Quang M, sinh ngày 24/4/2005; địa chỉ thường trú: Số NN khu phố 4, phường Tân Thuận Tây, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số OO đường Huỳnh Tấn Phát, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Ông Dương Ngọc Q, sinh năm 2004; địa chỉ: Số PP đường Trần Xuân Soạn, phường Tân Thuận Tây, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Ông Huỳnh Cẩm Đ, sinh năm 1979 và bà Lê Thị Minh T, sinh năm 1981; địa chỉ: QQ Phan Văn Trị, phường 2, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ ngày 25/5/2021, Tạ Anh T điều khiển xe mô tô chở vợ tên Lê Thủy T (sống như vợ chồng) lưu thông trên đường Trần Xuân Soạn, Quận 7 bị nhóm thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) chém, trong nhóm có người điều khiển xe Dream màu đỏ. T nhắn tin trên mạng xã hội Messenger trong nhóm “Gia đình” gồm Tạ Anh T, Huỳnh Anh H, Lê Huỳnh K, Võ Trần Công M và Phan Kim B thông báo, tìm kiếm nhóm trên để trả thù. Phan Kim B lên mạng xã hội Facebook tìm kiếm, gửi hình ảnh Trần Ích Đ ngồi trên xe Dream màu đỏ. T nghĩ nhóm Trần Ích Đ đã chém T. T rủ nhóm đi kiếm nhóm Trần Ích Đ đánh trả thù. T hẹn gặp tại dưới gầm cầu Him Lam phường Tân Hưng Quận 7 để đi kiếm nhóm của Trần Ích Đ để đánh trả thù.

Vào khoảng 17 giờ cùng ngày, H gọi điện thoại cho T, K đến quán cà phê, địa chỉ: 212B Nguyễn Trãi, Quận 1 tập trung đi đánh trả thù. K điện thoại cho T (không rõ nhân thân, lai lịch) cùng tham gia. Nhóm T điều khiển xe mô tô đến trước hẻm 351 An Dương Vương, Quận 5, H gặp Phạm Duy P lấy 02 cây dao tự chế (mã tấu): 01 cây màu đen, 01 cây màu trắng gửi hồi tháng 5/2021 giữ giúp. H nói cho P biết dùng dao đi đánh nhóm Quận 7, nhưng không nói rõ đánh ai. P cũng không hỏi H đi đánh ai. H đưa 01 cây dao màu đen cho K để dưới yên xe, còn H giữ cây màu trắng trong áo khoác. Nhóm T đi về hướng Quận 7. Trên đường đi T điện thoại nhờ M liên lạc với Phan Kim B để kêu B đến chân cầu Him Lam, phường Tân Hưng, Quận 7 gặp T để cùng đi kiếm nhóm Trần Ích Đ đánh trả thù. M biết rõ là gọi cho B để đi đánh trả thù, nhưng M vẫn gọi điện thoại cho B theo yêu cầu của T, M bận đi giao hàng không đi cùng nhóm T. Nhận điện thoại của M, B điều khiển xe mô tô Vario màu xám, biển số: 59H1-96175 tới điểm hẹn. Khi tới điểm hẹn B thấy Tạ Anh T, Huỳnh Anh H, Lê Huỳnh K và người tên H, T (không rõ nhân thân, lai lịch) cùng nhau đi tìm nhóm Trần Ích Đ đánh để trả thù. B điều khiển xe Vario chở H (không rõ nhân thân, lai lịch), T điều khiển xe Vision chở Anh H, T điều khiển xe Dream chở K. B hỏi T về chuẩn bị hung khí, T trả lời đã có 02 cây dao tự chế do H chuẩn bị. T ra lệnh cho cả nhóm xuất phát. B là người biết mặt Trần Ích Đ và thông thạo đường Quận 7 nên điều khiển dẫn đầu, cả nhóm điều khiển đi nhiều tuyến đường thuộc Quận 7 nhưng không tìm thấy Trần Ích Đ, nhóm T quay về.

Đến khoảng 20 giờ 45 Phút ngày 25/5/2021, khi đến trước Quán bia Sệt, địa chỉ: 02 Nguyễn Hữu Thọ, phường Tân Hưng, Quận 7 thì phát hiện nhóm anh Dương Ngọc Q điều khiển xe mô tô Vario, chở anh Phan Xuân Anh T; anh Trần Ích Đ điều khiển xe mô tô Vario trắng; anh Phạm Thái Quang M điều khiển xe Dream màu đỏ đang lưu thông trên đường. Phan Kim B điều khiển xe Vairio chở H, Tạ Anh T điều khiển xe Vision màu đỏ chở Huỳnh Anh H cầm theo 01 cây dao tự chế và Thành, H (không rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô Dream cầm theo 01 cây dao ngắn màu đen, chặn lại. T kêu B nhận dạng nhóm Trần Ích Đ có phải là nhóm đang tìm đánh không. B quay đầu lại xem và gật đầu và nói “Đúng rồi”. Huỳnh Anh H ngồi sau nhảy xuống xe, cầm 01 cây dao tự chế chạy lại chém trúng vào vai phải và trúng vào vùng mặt bên phải của anh T. Anh Q điều khiển xe chở anh T bỏ chạy theo hướng đường Nguyễn Hữu Thọ về Nhà Bè thì bị nhóm T đuổi theo. Khi đến trước Chung cư Hoàng Anh Gia Lai, hẻm số 3, đường Lê Văn Lương, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè thì nhóm T đuổi kịp định chém tiếp nhưng do đông người nên nhóm T bỏ đi. Khoảng 20 Pt sau, T, M điều khiển xe mô tô gặp Bi và H tại Quận 1. Lúc này Trần Ích Đ gọi điện thoại cho M hỏi tại sao lại chém nhóm của Đ, cả nhóm mới biết là chém nhầm người. Anh T được anh Q chở đi cấp cứu tại Bệnh viện huyện Nhà Bè rồi chuyển lên Bệnh viện nhân dân 115. Ngày 27/5/2021, anh T đến Công an phường Tân Hưng, Quận 7 trình báo và yêu cầu khởi tố đối với những người gây thương tích cho mình. Trên đường về T liên lạc với K để giao 02 cây dao tự chế cho H để Hòa gửi P. H gọi cho P gửi 02 cây dao tự chế. P có hỏi H sau đi về nhanh, H nói mới đi đánh nhóm Quận 7 về. Đến khoảng 3-4 ngày sau thì H đến gặp P lấy 02 cây dao mang đi. Trên đường đi H đã ném 02 cây dao tự chế.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 505/TgT.21 ngày 08/6/2021 của Trung tâm pháp y-Sở y tế Tp.Hồ Chí Minh kết luận thương tích của anh Phan Xuân Anh T:

- Một vết vùng má phải kích thước 5,5x0,1cm, tình trạng ổn định. Có tỉ lệ 06%.

- Một vết vùng vai phải kích thước 5,5x(0,1-0,3)cm, tình trạng ổn định. Có tỉ lệ 02%.

Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 08%, hai vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng.

Tại Bản cáo trạng số 52/CT – VKSQ7 ngày 19/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Tạ Anh T, Huỳnh Anh H, Phan Kim B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Võ Trần Công M về tội “Không tố giác tội phạm” theo Khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Tạ Anh T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phan Kim B từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Huỳnh Anh H thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam.

Áp dụng khoản 1 Điều 390; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Võ Trần Công M 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Không tố giác tội phạm”. Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Võ Trần Công M.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại ông Phan Xuân Anh T yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án các bị cáo Tạ Anh T, Huỳnh Anh H đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 20.000.000 đồng (nộp vào tài khoản kho bạc Nhà nước).

Tại phiên tòa các bị cáo T, H, B đồng ý bồi thường số tiền còn lại là 80.000.000 đồng tiền theo yêu cầu của ông T, cụ thể: bị cáo T bồi thường thêm là 30.000.000 đồng, bị cáo H bồi thường thêm là 30.000.000 đồng, bị cáo B bồi thường số tiền còn lại là 20.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường này.

- Các bị cáo cũng đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với nội dung vụ án đã được tóm tắt ở trên, đã thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi gây thương tích cho người bị hại.

- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, T diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 505/TgT.21 ngày 08/6/2021 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh và kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, xét đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Tạ Anh T, Huỳnh Anh H, Phan Kim B dùng hung khí là dao tự chế (mã tấu) chém vào vùng vai phải và má phải gây thương tích cho Phan Xuân Anh T tỉ lệ thương tích là 08%. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm điểm a, i Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.

Bị cáo Võ Trần Công M mặc dù đã biết T rủ đi đánh trả thù nhóm Trần Ích Đ, liên lạc để Phan Kim B tham gia gây thương tích cho ông Phan Xuân Anh T. Hậu quả Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 đã ra Quyết định khởi tố các bị cáo Tạ Anh T, Huỳnh Anh H và Phan Kim B về tội “Cố ý gây thương tích”. Vì vậy, hành vi của bị cáo Võ Trần Công M đã cấu thành tội “Không tố giác tội phạm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 390 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.

Hành vi của các bị cáo Tạ Anh T, Huỳnh Anh H và Phan Kim B có tính chất côn đồ, xem thường tính mạng sức khỏe của người khác, xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và ngăn ngừa chung trong xã hội.

Hành vi của Võ Trần Công M là nguy hiểm, nên cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi, nhân thân của các bị cáo để Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt cho tương xứng với tính chất vụ án.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo tuổi đời còn trẻ, gia đình hoàn cảnh khó khăn, bị cáo H ra đầu thú, các bị cáo T, H đã tác động gia đình bồi thường một phần trách nhiệm dân sự cho người bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo H lúc phạm tội là người dưới 18 tuổi. Vì vậy, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tạ Anh T xúi dục các bị cáo H và Lê Huỳnh K, sinh ngày 17/7/2006 (Tính đến thời điểm K tham gia gây thương tích cho ông Phan Xuân Anh T, K 14 tuổi 10 tháng 08 ngày) là người dưới 18 tuổi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo M đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo M có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuổi đời bị cáo còn trẻ nên cần áp dụng Điều 36 cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Không khấu trừ thu nhập của bị cáo, vì các bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động phổ thông không có công ăn việc làm ổn định.

Đối với Lê Huỳnh K, sinh ngày 17/7/2006. Tính đến thời điểm K tham gia gây thương tích cho ông Phan Xuân Anh T, K 14 tuổi 10 tháng 08 ngày. Tội phạm mà T và đồng phạm gây ra thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của K không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm đến sức khoẻ của người khác là có căn cứ.

Đối với đối tượng T, H (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tham gia gây thương tích cho ông Phan Xuân Anh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 tiếp tục truy xét làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

Đối với Phạm Duy P người giữ giúp H 02 cây dao tự chế. P không biết dùng dao đi đánh nhóm Quận 7, không rõ đánh ai. P cũng không hỏi H đi đánh ai. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 không tiến hành khởi tố đối với Phạm Duy P là có căn cứ.

Xử lý vật chứng vụ án:

- 02 cây dao tự chế (mã tấu) là hung khí không thu hồi được nên không xét.

- 01 địện thoại di động Samsung Galaxy A31, số Imei: 354565114810405, sim thuê bao số: 07028256... Thu giữ của bị cáo Huỳnh Anh H. Bị cáo H khai sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- 01 địện thoại di động Iphone 6 màu vàng, số Imei: 3354443068861206, sim thuê bao số: 09271819... Thu giữ của bị cáo Phan Kim B. Bị cáo B khai sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- 01 xe mô tô Vario 150, biển số: 59H1-961.75 là phương tiện bị cáo B sử dụng là phương tiên phạm tội. Kết quả xác minh người đứng tên chủ sở hữu là Phan Kim B. B khai xe trên B sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- 01 địện thoại di động Iphone, số Imei: 357275096568156, sim thuê bao số: 09075132... Thu giữ của bị cáo Võ Trần Công M. Bị cáo M khai sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- 01 đôi dép của ông Phan Xuân Anh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 ra Quyết định xử lý vật chứng trả tài sản trên cho ông T là có căn cứ nên không xét.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Phan Xuân Anh T yêu cầu các bị cáo bồi thường 100.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án các bị cáo Tạ Anh T, Huỳnh Anh H đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại ông T số tiền 20.000.000 đồng (nộp vào tài khoản kho bạc Nhà nước).

Tại phiên tòa các bị cáo T, H, B đồng ý bồi thường số tiền còn lại là 80.000.000 đồng tiền theo yêu cầu của ông T, cụ thể: bị cáo T bồi thường thêm là 30.000.000 đồng, bị cáo H bồi thường thêm là 30.000.000 đồng, bị cáo B bồi thường số tiền còn lại là 20.000.000 đồng.

Căn cứ đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường của các bị cáo và bị hại về việc giải quyết yêu cầu bồi thường về mặt dân sự.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo T, H, B phải chịu án dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm điểm a, i Khoản 1 Điều 134; điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: bị cáo Tạ Anh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2021.

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Huỳnh Anh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2021.

Căn cứ điểm điểm a, i Khoản 1 Điều 134; điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: bị cáo Phan Kim B 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.

Căn cứ Khoản 1 Điều 390; điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Võ Trần Công M 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Không tố giác tội phạm”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú được giao giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành án và bản án.

Trong trường hợp bị cáo chuyển nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục được thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Giao bị cáo Võ Trần Công M cho Uỷ ban nhân dân phường P Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Võ Trần Công M.

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 30, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

+ 01 địện thoại di động Samsung Galaxy A31, số Imei: 354565114810405, sim thuê bao số: 07028256.. thu giữ của bị cáo Huỳnh Anh H.

+ 01 địện thoại di động Iphone 6 màu vàng, số Imei: 3354443068861206, sim thuê bao số: 09271819.. thu giữ của bị cáo Phan Kim B.

+ 01 xe mô tô Vario 150, biển số: 59H1-961.LL thu giữ của bị cáo Phan Kim B.

+ 01 địện thoại di động Iphone, số Imei: 357275096568156, sim thuê bao số: 09075132.. thu giữ của bị cáo Võ Trần Công M.

(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 67 ngày 27/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7).

- Trả lại số tiền 20.000.000 đồng mà các bị cáo Tạ Anh T, Huỳnh Anh H đã nộp vào ngân sách Nhà nước (theo biên lai thu tiền số AA/2021/0014688 ngày 27/7/2022 và AA/2021/0014689 ngày 27/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7) cho ông Phan Xuân Anh T.

- Buộc bị cáo Tạ Anh T phải bồi thường số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng cho ông Phan Xuân Anh T.

- Buộc bị cáo Huỳnh Anh H phải bồi thường số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng cho ông Phan Xuân Anh T.

- Buộc bị cáo Phan Kim B phải bồi thường số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng cho ông Phan Xuân Anh T.

Kể từ ngày Cơ quan Thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án về khoản tiền các bị cáo phải bồi thường nếu các bị cáo chưa thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp là 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng; Bị cáo H phải nộp là 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng và bị cáo B phải nộp là 1.000.000 (một triệu) đồng.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo và các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ