vanban.org

Bản án 114/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/03/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2 Điều 51 và Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày 01/01/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? 2 Điều 51 và Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2022/HS-PT
Ngày 28-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Nam.

Các Thẩm phán: 1. Ông Vũ Tất Trình.

2. Ông Ngô Ngọc Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thăng - Thư ký Tòa án Nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Ông Lê Viễn Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số

366/2021/HSPT ngày 16 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Thành N

do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2021/HS-ST

ngày 02 tháng 11 năm 2021 của Tòa án Nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thành N (tên gọi khác: Bi 20), sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ

Chí Minh; nơi ĐKTT: đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hố Chí

Minh; nơi ở: đường X, xã D, huyện E, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp:

Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo:

không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N2 và bà Nguyễn Thị H; có

vợ và 03 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tại bản án số

175/2005/HSST ngày 06/9/2005 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ

Chí Minh xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành

xong hình phạt tù ngày 13/9/2008, đã xóa án tích. Bị bắt tạm giam từ ngày

29/4/2021 đến ngày 09/7/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi

khỏi nơi cư trú, tại ngoại có mặt.

Ngoài ra còn có 03 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo,

kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 21/4/2021 tại Lầu 4, trung tâm

thương mại Nowzone, số 235 Nguyễn Văn Cừ, Quận 1, Nguyễn Thành N, Trần Hồng Q gặp L, T, V (chưa rõ lai lịch) thì N thấy các anh Lê Đức N3, Vũ Đăng Ngọc T2 nhìn mình. Do N cho rằng anh T2, N3 nhìn đểu mình nên N nói Q “Mày gọi thằng V2 ra xử lý, đánh mấy thằng này cho tao” nên Q gọi V2 nói “đến trung tâm thương mại Nowzone đánh 02 người nhìn đểu em và anh Bi” và gọi Bi Chùa (chưa rõ lai lịch) nói “Bạn đến đánh giúp tôi có 02 thằng nhìn đểu tôi”. V2 gọi Lê Hữu L1 đi theo để hỗ trợ, L1 đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, V2 điều khiển xe mô tô Honda SH, biển kiểm soát 59L2-703.58, Lê Hữu L1 điều khiển xe mô tô Honda Winner, biển kiểm soát 59Z1-438.90 đến trung tâm thương mại Nowzone thì Q gọi V2 nói “thấy có thằng mặc áo xanh đi ra thì đánh nó” rồi Q điều khiển xe ô tô hiệu Audi, biển kiểm soát 61A-317.44 chở N đi về. V2 điều khiển xe mô tô Honda SH, biển kiểm soát 59L2-703.58 áp sát xe mô tô của anh T2 rồi xuống xe, dùng tay trái đánh vào đầu anh T2 rồi giật mũ bảo hiểm của anh T2, cầm mũ trên tay phải đánh vào đầu anh T2. Anh N2 chứng kiến sự việc nên đến can ngăn; V2 cầm mũ bảo hiểm đánh 02 cái vào đầu anh N2. Lúc này, L1, Bi Chùa và 04 đối tượng là thanh niên (chưa rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô chạy đến nên các anh T2, N3 bỏ chạy, V2, L1 và các đối tượng đuổi theo. Anh N3 chạy được khoảng 10 mét thì bị 01 đối tượng dùng chân đạp từ phía sau làm anh N3 ngã xuống đường, L1 cầm mũ bảo hiểm đánh anh N3 01 cái, V2 dùng mũ bảo hiểm cùng 03 đối tượng dùng côn nhị khúc, tay, chân đánh anh N3. Anh T2 chạy đến hỗ trợ anh N3 thì bị 02 đối tượng dùng mũ bảo hiểm, tay, chân đánh gây thương tích. Lúc này, các anh Nguyễn Tấn L2, Nguyễn Anh H1 (là người dân đi đường) chạy đến hỗ trợ và cùng các anh T2, N3 bắt giữ L1, đưa về Công an phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 để xử lý. Riêng V2 và các đối tượng còn lại chạy thoát. Các anh T2, N3 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với những người đã gây thương tích cho mình (BL: 208; 209; 220; 221).

Qua điều tra truy xét, vào ngày 26/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra

Công an Quận 1 đã bắt giữ Nguyễn Thành N, Trần Hồng Q đưa về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 để xử lý. Riêng V2 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 bắt giữ vào ngày 25/4/2021 do có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (BL: 19; 184; 185).

Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 483/TgT.21 ngày

02/6/2021 đối với anh Lê Đức N3 kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Theo Bệnh án cấp cứu của Bệnh viện 115 vào viện lúc 13 giờ 49 phút

ngày 22/4/2021 và Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 23/4/2021:

- Đa chấn thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn: Vết sây sát

vùng trán trái kích thước 0,3x0,1cm. Có tỉ lệ 0,5%.

Thương tích trên do vật tày, vật tày có cạnh hoặc vật có cạnh tác động

gây ra.

+ Vết xước da mặt ngoài 1/3 trên cẳng tay trái kích thước 4,5x0,05cm.

Có tỉ lệ 0,5%.Vết xước da vùng cổ phải kích thước 4,5x0,05cm. Có tỉ lệ 01%.

Vết xước da mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái kích thước 6x0,1cm. Có tỉ lệ

0,5%.

Các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác

động gây ra.

+ Diện sây sát mặt ngoài 1/3 dưới cánh tay trái kịch thước 4,5x2cm. Có

tỉ lệ 0,5%.

Thương tích trên do vật tày nhám tác động gây ra.

+ Vết sây sát vùng khuỷu trái kích thước 12x1,5cm. Vết sây sát vùng

gối phải trên diện kích thước 5x1,5cm. Vết sây sát vùng gối trái trên diện kích

thước 5x1,5cm. Có tỉ lệ 01% mỗi vết.

Các thương tích trên do vật tày có cạnh hoặc vật tày nhám tác động gây

ra hoặc do phần cơ thể tác động vào các vật trên.

+ Hết sưng bầm vùng trán, vùng chẩm và hạ sườn hai bên.

Thông tư số 22/2019/TT-BYT không qui định tỉ lệ sưng bầm.

Thương tích trên nghĩ nhiều do vật tày tác động gây ra.

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy

định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y

tâm thần: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 06% (Sáu

phần trăm).

3. Kết luận khác: Tất cả các thương tích trên không gây nguy hiểm đến

tính mạng đương sự. (BL: 104-106)

Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 476/TgT.21 ngày

28/5/2021 đối với anh Vũ Đăng Ngọc T2 kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Theo Bệnh án cấp cứu của Bệnh viện 115 vào viện lúc 13 giờ 51 phút

ngày 22/4/2021 và Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 23/4/2021:

- Đa chấn thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn:

+ Một vết xước da ở phía sau cổ phải kích thước 3,5x (0,05-0,2)cm. Có

tỉ lệ 02%.

Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn, vật có cạnh sắt tác động gây

ra.

+ Sưng bầm vùng sau bả vai trái, ngực trái.

Thương tích trên do vật tày tác động gây ra.

+ Không còn sưng bầm mạn sường phải và vùng chẩm.

Chấn thương trên nghĩ nhiều do vật tày tác động gây ra.

Thông tư số 22/2019/TT-BYT không qui định tỉ lệ sưng bầm.

Thương tích trên nghĩ nhiều do vật tày tác động gây ra.

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy

định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02% (Hai phần trăm).

3. Kết luận khác: Các thương tích trên không gây nguy hiểm đến tính

mạng đương sự (BL: 104-106; 109, 110).

Quá trình điều tra, Nguyễn Thành N, Trần Hồng Q, V2, Lê Hữu L1

khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của các đối tượng phù hợp với biên bản ghi nhận sự việc; biên bản kiểm tra camera; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; kết luận giám định pháp y về thương tích cùng lời khai của các bị hại, những người làm chứng; xác nhận đối với hình ảnh camera vụ án và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập (BL: 31-35, 41-65; 82-130).

Vật chứng vụ án: 01 USB màu đen - vàng ghi nhận hình ảnh camera vụ

án, lưu kèm hồ sơ vụ án.

Thu giữ của Nguyễn Thành N: 01 điện thoại di động kiểu dáng Vertu

và 3.600.000 đồng, 01 bóp nam có chữ “LV” màu xám đen.

Thu giữ của Trần Hồng Q: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu

hồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu đỏ.

Thu giữ của Lê Hữu L1: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen;

01 xe mô tô hiệu Honda Winner biển kiểm soát 59Z1-438.90, số khung: RLHKC2605KY006951, số máy: KC26E-1266693 theo Kết luận giám định số 4587/KLGĐ-X(Đ3) của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/6/2021 kết luận: số khung, số máy bị mài đục số, không xác định được số nguyên thủy. Qua xác minh xe mô tô hiệu Honda Winner có biển kiểm soát, số khung, số máy nêu trên hiện do anh Hồ Minh Thuận đứng tên chủ sở hữu, sử dụng (BL: 114; 121-128).

Hiện các vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1

đang tạm giữ (BL: 117-120).

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thành N, Trần Hồng Q, V2, Lê Hữu

L1 đã bồi thường cho anh Vũ Đăng Ngọc T2 số tiền 10.000.000 đồng và anh Lê Đức N3 số tiền 10.000.000 đồng, các anh T2, N3 không có yêu cầu gì khác về dân sự (BL: 223).

Tại bản cáo trạng số 117/CT-VKSQ1 ngày 26 tháng 7 năm 2021, Viện

kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Thành N, Trần Hồng Q, Lê Hữu L1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Truy tố V2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 120/2021/HS-ST ngày 02 tháng 11 năm

2021 của Tòa án Nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:

1. Căn cứ vào điểm a, i Khoản 1 Điều 134, điểm b, s Khoản 1 Điều 51,

Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N

phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt Nguyễn Thành N 07 (bảy) tháng

tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án, khấu trừ vào thời hạn tạm

giam từ ngày 29/4/2021 đến ngày 09/7/2021.

2. Căn cứ vào điểm a, i Khoản 1 Điều 134, điểm b, s Khoản 1 Điều 51,

Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo Lê Hữu L1 phạm tội

“Cố ý gây thương tích”. Xử phạt Lê Hữu L 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính

từ ngày 29/4/2021.

3. Căn cứ vào điểm a, i Khoản 1 Điều 134, điểm b, s Khoản 1 Điều 51,

điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 56, Khoản 5 Điều 65, Điều 17 của Bộ luật

Hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo Trần Hồng Q phạm tội “Cố ý gây thương

tích”. Xử phạt Trần Hồng Q 07 (bảy) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của Bản

án số 387/2019/HSPT ngày 10/9/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xử phạt Trần Hồng Q 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù.

Buộc Trần Hồng Q phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là

02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2021.

4. Căn cứ vào điểm d Khoản 2 Điều 134, điểm b, s Khoản 1 Điều 51,

Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo V2 phạm tội “ Cố ý

gây thương tích”. Xử phạt V2 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính

từ ngày 29/4/2021.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và

quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/11/2021, bị cáo Nguyễn Thành N

kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo do cho rằng Tòa

án cấp sơ thẩm xử nặng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo N khai nhận có mặt cùng với Trần Hồng Q tại hiện trường vụ án

trước khi vụ án xảy ra, không mâu thuẫn với Q, quá trình điều tra không bị

bức cung, ép cung hay bị dùng nhục hình. Nhưng bị cáo không thừa nhận chỉ

đạo cho bị cáo Q kêu người đến đánh bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân

tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh

nhiệm hình sự nhận định án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là thỏa đáng,

đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai. Do đó, kháng cáo của bị

cáo là không có cơ sở để chấp nhận.

Bị cáo không tranh luận; bị cáo nói lời sau cùng xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 21/4/2021 tại Lầu 4, trung tâm

thương mại Nowzone, số 235 Nguyễn Văn Cừ, Quận 1. Nguyễn Thành N, Trần Hồng Q gặp L, T, V (chưa rõ lai lịch) thì Nhân thấy các anh Lê Đức N3, Vũ Đăng Ngọc T2 nhìn mình. Do N cho rằng anh T2, N3 nhìn đểu mình nên N nói Q “Mày gọi thằng V2 ra xử lý, đánh mấy thằng này cho tao” nên Q gọi V2 nói “đến trung tâm thương mại Nowzone đánh 02 người nhìn đểu em và anh Bi” và gọi Bi Chùa (chưa rõ lai lịch) nói “Bạn đến đánh giúp tôi có 02 thằng nhìn đểu tôi”. V2 gọi Lê Hữu L1 đi theo để hỗ trợ, L1 đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, V2 điều khiển xe mô tô Honda SH, biển kiểm soát 59L2-703.58, Lê Hữu L1 điều khiển xe mô tô Honda Winner, biển kiểm soát 59Z1-438.90 đến trung tâm thương mại Nowzone thì Q gọi To Long Soc Sa Van nói “thấy có thằng mặc áo xanh đi ra thì đánh nó” rồi Q điều khiển xe ô tô hiệu Audi, biển kiểm soát 61A-317.44 chở N đi về. V2 điều khiển xe mô tô Honda SH, biển kiểm soát 59L2-703.58 áp sát xe mô tô của anh T2 rồi xuống xe, dùng tay trái đánh vào đầu anh T2 rồi giật mũ bảo hiểm của anh T2, cầm mũ trên tay phải đánh vào đầu anh T2. Anh N3 chứng kiến sự việc nên đến can ngăn; V2 cầm mũ bảo hiểm đánh 02 cái vào đầu anh N3. Lúc này, L1, Bi Chùa và 04 đối tượng là thanh niên (chưa rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô chạy đến nên các anh T2, N3 bỏ chạy, V2, L1 và các đối tượng đuổi theo. Anh N3 chạy được khoảng 10 mét thì bị 01 đối tượng dùng chân đạp từ phía sau làm anh N3 ngã xuống đường, L1 cầm mũ bảo hiểm đánh anh N3 01 cái, V2 dùng mũ bảo hiểm cùng 03 đối tượng dùng côn nhị khúc, tay, chân đánh anh N3. Anh T2 chạy đến hỗ trợ anh N3 thì bị 02 đối tượng dùng mũ bảo hiểm, tay, chân đánh gây thương tích. Lúc này, các anh Nguyễn Tấn L2, Nguyễn Anh H1 (là người dân đi đường) chạy đến hỗ trợ và cùng các anh T2, N3 bắt giữ L1, đưa về Công an phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 để xử lý. Riêng V2 và các đối tượng còn lại chạy thoát. Các anh T2, N3 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với những người đã gây thương tích cho mình. Theo kết luận giám định thương tích thì tỉ lệ tổn thương cơ thể của anh Lê Đức N3 là 06% và của anh Vũ Đăng Ngọc T2 là 02%. Đây là vụ án có đồng phạm, thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn trong đó Nguyễn Thành N là người chỉ đạo Trần Hồng Q gọi người đến đánh các anh T2, N3. Q là người giúp sức tích cực cho N, V2 và Lê Hữu L1 là những người trực tiếp đánh các anh T2, N3. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm và phạm tội có tính chất côn đồ.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn

Thành N và đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a điểm i khoản 1, điểm d khoản 2 (đối với bị cáo V2) Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm) là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Và khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ

cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt

hại chi phí chữa trị cho bị hại, là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ

mới sinh năm 2021 quy định tại điểm b điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 17

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo 07

(bảy) tháng tù là thỏa đáng, có căn cứ và đúng pháp luật. Nhưng có thiếu sót

khi nhận định mà không áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015,

sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi quyết định nên rút kinh nghiệm.

Với lập luận trên đây, bị cáo N là người chỉ huy và phạm tội có tính

chất côn đồ là thuộc trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định tại

Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm

phán Tòa án nhân dân Tối cao nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu

kháng cáo của bị cáo; chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên và giữ nguyên

bản án sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ

luật Tố tụng hình sự.

Xét về án phí đối với bị cáo: phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày

01/01/2017.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình

sự;

Căn cứ điểm a điểm i khoản 1 Điều 134, điểm b điểm s khoản 1 khoản

2 Điều 51 và Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày

01/01/2017.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N (tên gọi khác:

Bi 20) và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N (tên gọi khác Bi 20) 07 (bảy) tháng tù

về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày

bị bắt đi thi hành án và được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 29/4/2021

đến ngày 09/7/2021.

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc

thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng

nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ