vanban.org

Bản án 114/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm V

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Cẩm V được ly hôn với anh Nguyễn Đức T. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Nhã P – sinh 09/3/2017 cho anh Nguyễn Đức T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm V
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
THAØNH PHOÁ PHAN THIEÁT
TÆNH BÌNH THUAÄN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 20/12/2022
V/v:“Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Văn Hoà

2. Bà Lương Thị Mỹ Linh

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Vũ Thuỳ Chi – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Hường – Kiểm sát viên.

------------------------------------------------------------

Vào lúc 14 giờ 00 ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 697/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 399/2022/QĐ-XXST ngày 22 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên toà số 30/2022/QĐST-DS ngày 06/12/2022 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Cẩm V – sinh năm 1991.

Trú tại: Khu phố Phú Trường, thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T - sinh naêm 1991.

Trú tại: Khu phố 02, phường Phú Tài, Tp. Phan Thiết, Bình Thuận.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà hôm nay chị Dương Thị Cẩm Vân trình bày:

Chị và anh Nguyễn Đức T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau vào năm 2016 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phong Nẫm, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân là do anh T có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, nhiều lần nhậu nhẹt say xỉn về nhà cãi vã đánh đập tôi, đã có lần bị Công an phường Phú Tài mời lên làm việc lập biên bản. Mặc dù chị đã cố hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T nữa và không thể kéo dài cuộc sống hôn nhân nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Đức T.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trần Nhã P – sinh ngày 09/3/2017. Tại đơn ly hôn và bản khai chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng, mỗi tháng 3.000.000 đồng. Tại buổi hoà giải và tại phiên toà hôm nay chị đồng ý giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Đức T trình bày: Anh và chị V tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phong Nẫm, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc. Do tính chất công việc của anh là đảm bảo hậu cần cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh nên tôi thường xuyên đi công tác xa nhà, trực chiến đấu nên ít ở nhà với vợ con. Năm ngoài khi trực chốt covid thì anh có quen một cô gái và có quan hệ nam nữ với cô đó. Do lúc đó vợ anh bị bệnh phụ nữ, không cho anh động vào nên anh đã có hành vi trên. Nhưng khi bị vợ anh phát hiện thì anh đã chấm dứt quan hệ đó. Anh đã xin lỗi vợ và gia đình vợ, vợ anh chấp nhận tiếp tục mối quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên trong quá trình chung sống cô ấy hay nhắc lại chuyện cũ nên vợ chồng có gây gỗ cẫi vã nhau. Tính anh nóng nảy cộng với nhiều áp lực công việc, áp lực về tài chính gia đình nhưng không được vợ chia sẻ hỏi han, để mặc một mình anh gồng gánh. Vợ anh không chăm lo việc nhà chu toàn, đồ đạc của anh và con để lung tung, đi làm về là nằm lên võng bấm điện thoại. Anh cũng biết là vợ sử dụng điện thoại để làm thêm nên ít chăm sóc đến gia đình, nói chuyện với anh thì như tạt nước lạnh vào mặt anh, nhưng sự việc cứ diễn ra như vậy làm anh ức chế, nghĩ quẩn tự tử được người nhà phát hiện. Vợ chồng đã tha thứ cho nhau làm lại từ đầu tiếp tục chung sống nhưng từ đó về sau mỗi lần gây gổ vợ anh cứ nhắc lại các chuyện cũ xỉ vả anh nên có lúc anh nóng giận đi ra nhà sau cầm dao lên đe doạ vợ anh im miệng, có lần anh đập kiếng đứt tay thành nhiều đường nhưng vợ anh vẫn vào xử lý vết thương cho anh. Anh hành động vậy là sai nhưng anh vẫn biết kiểm soát mình chứ không đánh đập vợ. Sự việc cãi vã ồn ào vợ anh đã báo công an phường và công an có mời anh lên giải quyết nhưng không lập biên bản. Nay anh vẫn còn tình cảm với chị V nên không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 1 con chung tên Nguyễn Trần Nhã P – sinh 09/3/2017. Giả sử Toà án giải quyết ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu vợ anh cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

* Vụ án đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành.

* Tại phiên tòa nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm V vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Đức T.

Bị đơn anh Nguyễn Đức T vẫn giữ nguyên ý kiến là không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự thủ tục do Bộ Luật tố tụng dân sự quy định.

Về nội dung: Qua xem xét hồ sơ và lời khai của các đương sự tại phiên tòa, Viện kiểm sát thấy rằng mâu thuẫn trong quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị V và anh T đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường hay gây gổ cãi vã, không ai chịu nhường nhịn ai, vợ chồng không cùng nhau chia sẻ gánh nặng gia đình, chứng tỏ hôn nhân của anh chị dã không thể cứu vãn. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Dương Thị Cẩm V được ly hôn với anh Nguyễn Đức T và chấp nhận thỏa thuận về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung của chị V và anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Căn cứ vào lời khai và kết quả tranh luận của các đương sự tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Dương Thị Cẩm V có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Đức T. Anh Nguyễn Đức T có nơi cư trú tại khu phố 2, phường Phú Tài, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khỏan 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị Cẩm V, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Dương Thị Cẩm V và anh Nguyễn Đức T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phong Nẫm, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 01/9/2016. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Dương Thị Cẩm V và anh Nguyễn Đức T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm V xin ly hôn với anh Nguyễn Đức T vì cho rằng quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc nguyên nhân là do anh T có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, nhiều lần nhậu nhẹt say xỉn về nhà cãi vã đánh đập chị. Chị đã cố gắng bỏ qua cho anh T để hàn gắn tình cảm gia đình nhưng anh T vẫn không thay đổi mà ngày càng thường xuyên chửi mắng chị. Nay chị không còn tình cảm với anh T nũa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Đức T.

Bị đơn anh Nguyễn Đức T không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên trong cuộc sống anh cho rằng chị V không chăm lo cho gia đình. Bản thân anh thì thường xuyên đi công tác, không có thời gian dành cho gia đình. Anh cũng thừa nhận anh có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác bị chị V phát hiện. Sau đó chị V đã bỏ qua trở về chung sống, nhưng mỗi khi gây gổ chị V hay nhắc lại sự việc trên làm anh bức xúc, nóng giận gây gổ cãi vã lớn tiếng, có lúc anh không kềm chế được nên đi ra nhà sau cầm dao lên đe doạ chị V im miệng, có lần anh đập kiếng đứt tay thành nhiều đường... Nay chị V làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh, anh không đồng ý ly hôn với vì anh còn thương chị V.

Từ những sự thừa nhận trên của đương sự, chứng tỏ mâu thuẫn gia đình của anh T chị V đã đến mức trầm trọng. Trong quá trình chung sống anh chị không cùng nhau chia sẻ, giúp đỡ nhau những khó khăn trong đời sống hôn nhân, mà thường gây gổ, cãi vã làm mất trật tự địa phương. Anh T thừa nhận anh T có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác và không có những hành động đe doạ dùng bạo lực với chị V nên dẫn tới việc chị V không tin tưởng anh T và nay không còn tình cảm với anh T nữa là có căn cứ. Từ đó cho thấy mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V là phù hợp với quy định pháp luật.

Về con chung: Anh chị có 1 con chung tên Nguyễn Trần Nhã P – sinh 09/3/2017. Khi ly hôn anh chị thống nhất giao con cho anh Nguyễn Đức T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con nên công nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét.

Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, nộp về án phí, lệ phí Tòa án chị Dương Thị Cẩm V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 19; khoản 01 Điều 51; khoản 01 Điều 56; Điều 57; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm V

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Cẩm V được ly hôn với anh Nguyễn Đức T.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Nhã P – sinh 09/3/2017 cho anh Nguyễn Đức T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Dương Thị Cẩm V có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

2. Về án phí: Chị Dương Thị Cẩm V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị V đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự Phan Thiết theo biên lai số 0013802 ngày 27/10/2022. Chị V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn. Quyền kháng cáo bản án của nguyên đơn và bị đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nôi nhaän:

TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ

- Caùc ñöông söï;

THAÅM PHAÙN – CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA

- VKS Tp. Phan Thiết;

- Thi haønh aùn daân söï Tp. Phan Thieát;

- UBND xã Phong Nẫm;

- Löu.

Nguyễn Thị Hồng Hạnh CAÙC HOÄI THAÅM NHAÂN DAÂN

THAÅM PHAÙN CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA NGUYEÃN THÒ NHÖ YEÁN NGUYEÃN THEÁ QUAÛNG

PHAÏM PHONG LAN Nôi nhaän:

Cỡ chữ