vanban.org

Bản án 114/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Cảnh B được ly hôn chị Trần Thị T.

Về nuôi con chung:Giao con chung là Nguyễn Thị Thảo, sinh ngày 20/01/2011 và Nguyễn Cảnh Hiền, sinh ngày 16/7/2015 cho anh Nguyễn Cảnh B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Trần Thị T. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa anh B và chị T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Cảnh B được ly hôn chị Trần Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 02/8/2022.
V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Thọ

Ông Nguyễn Xuân Ngân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 88/2022/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp về ly hôn và nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2022/QĐST- HNGĐ ngày 21/7/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Cảnh B, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm X, xã T, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện; bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Nguyễn Cảnh B trình bày như sau:

Về hôn nhân: Anh và chị Trần Thị T kết hôn với nhau vào ngày 01/7/2009 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2015 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp và vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Tình cảm vợ chồng là không còn, anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị T.

Về con chung:Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 20/01/2011 và Nguyễn Cảnh H, sinh ngày 16/7/2015. Cả hai người con ở với anh từ nhỏ đến nay tại Xóm X, xã T, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai người con và không yêu cầu chị Trần Thị T cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản sản và nợ: Anh Nguyễn Cảnh B không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến bị đơn chị Trần Thị T:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Cảnh B kết hôn với nhau vào ngày 01/7/2009 do hai bên tìm hiểu tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó vợ chồng đi làm ăn xa mỗi người một nơi. Vợ chồng đã sống ly thân một năm nay không gặp nhau. Nay anh Nguyễn Cảnh B xin ly hôn thì chị Thu đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con là Nguyễn Thị Th, sinh ngày 20/01/2011 và Nguyễn Cảnh H, sinh ngày 16/7/2015. Chị Trần Thị T yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Cảnh H, sinh ngày 16/7/2015, giao cho anh Nguyễn Cảnh B nuôi cháu Nguyễn Thị T, sinh ngày 20/01/2011, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Chị Trần Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81,Điều 82,Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Cảnh B được ly hôn chị Trần Thị T.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 20/01/2011 cho anh Nguyễn Cảnh B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao con chung là Nguyễn Cảnh H, sinh ngày 16/7/2015 cho chị Trần Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Cảnh B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Cảnh B và chị Trần Thị T là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tỉnh Nghệ An vào ngày 01/7/2009 . Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nên vợ chồng sống ly thân. Nay anh Nguyễn Cảnh B xin ly hôn thì chị Trần Thị T đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Cảnh B và chị Trần Thị T chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Cảnh B, xử cho anh được ly hôn với chị Trần Thị T là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 người con là Nguyễn Thị T, sinh ngày 20/01/2011 và Nguyễn Cảnh H, sinh ngày 16/7/2015. Anh Nguyễn Cảnh B yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai người con và không yêu cầu chị Trần Thị T cấp dưỡng nuôi con. Chị T yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Cảnh H, sinh ngày 16/7/2015, giao cho anh B nuôi cháu Nguyễn Thị T, sinh ngày 20/01/2011, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Các cháu Nguyễn Thị T, sinh ngày 20/01/2011 và Nguyễn Cảnh H, sinh ngày 16/7/2015 đều có nguyện vọng được ở với anh Nguyễn Cảnh B.

Kết quả xác minh tại UBND xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương thì các cháu Nguyễn Thị T, sinh ngày 200/01/2011 và Nguyễn Cảnh H, sinh ngày 16/7/2015 ở với anh Nguyễn Cảnh B và ông bà nội tại Xóm X, xã T, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An từ nhỏ đến nay.

Xét thấy hiện tại các cháu Nguyễn Thị T, sinh ngày 20/01/2011 và Nguyễn Cảnh H, sinh ngày 16/7/2015 ở với anh Nguyễn Cảnh B ổn định từ nhỏ đến nay, nguyện vọng của cả hai người con đều muốn được ở với bố, do đó giao con cả hai người con cho anh trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con, không làm xáo trộn cuộc sống cũng như việc học hành của các con, mới đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và đúng với quy định tại các Điều 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản và nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Cảnh B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Cảnh B được ly hôn chị Trần Thị T.

Về nuôi con chung:Giao con chung là Nguyễn Thị Thảo, sinh ngày 20/01/2011 và Nguyễn Cảnh Hiền, sinh ngày 16/7/2015 cho anh Nguyễn Cảnh B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Trần Thị T.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Về án phí: Anh Nguyễn Cảnh B phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn)đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng(Ba trăm ngàn) theo biên lai số 0009138 ngày 09/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Về quyền kháng cáo: Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ