- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con - Nguyễn Thị N - Phạm Văn Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N đối với anh Phạm Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 114/2022/HNGĐ-ST Ngày 25 - 8 - 2022 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thành Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quang Vinh;
2. Ông Ngô Văn Khon.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhàn – Kiểm sát viên.
Ngày 02 thang 8 và ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 75/2022/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 3 năm 2022; về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89A/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022; quyết định hoãn phiên tòa số: 78/2022/QĐST-HNGĐ ngày 02/8/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1990 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp Ph, xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn Th, sinh năm: 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Th, Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, biên bản phiên họp – hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Phạm Văn Th tự tìm hiểu với nhau và được cha mẹ hai bên thống nhất tổ chức đám cưới vào cuối năm 2012, đến ngày 06/02/2014 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2014 phát sinh mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân do năm 2014 khi anh chị còn thuê mướn nhà trọ ở tỉnh Bình Dương để làm thuê thì thường xuyên xảy ra chuyện cải vả với nhau, về việc tiền bạc trong cuộc sống thiếu thốn hàng ngày, do anh Th không quan tâm lo lắng cho vợ con mà tiêu xài phung phí.
Vào đầu năm 2015 sau nhiều lần cãi vả, chị đã nhiều lần khuyên anh Th không được, nên chị mang con về quê tại ấp Ph, xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang sống nhờ tại nhà cha mẹ ruột đến nay. Trong thời gian ly thân anh Th không về thăm nom con và hàn gắn tình cảm với chị, mà anh Th còn phát sinh mối quan hệ tình cảm rồi cùng sống chung với người phụ nữ khác tại Bình Dương bỏ mặt chị và con, nên chị và anh Th ly thân từ năm 2015 đến nay. Hiện nay chị không còn tình cảm với anh Th, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th theo quy định.
Về con chung: Có 01 người con là cháu Phạm Thị Kim Y, sinh ngày 29/7/2014 hiện chị đang nuôi dưỡng, nên chị yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Y đến khi cháu Y đủ 18 tuổi, chị không có yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Th tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Phạm Văn Th: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra giao nộp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra giao nộp công khai tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đối với anh Th.
Nhưng đến nay anh Th vẫn cố tình vắng mặt (không có lý do), không đến Tòa án để tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến hay tài liệu, chứng cứ cho Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nội dung tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Văn Th làm phát sinh “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” được quy định tại các Điều 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình thụ lý giải quyết là đúng theo quy định pháp luật; về thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35, 36, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng Tòa án đã tống đạt hợp lệ theo quy định cho anh Th gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra giao nộp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra giao nộp công khai tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa; nhưng anh Th vẫn cố tình vắng mặt, không đến tham gia tố tụng tại Tòa án theo quy định.
Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Th là phù hợp theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị N và anh Th được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không bị cưỡng ép hoặc lừa dối; anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại phiên tòa hôm nay, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th theo quy định pháp luật.
Đối với anh Phạm Văn Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng trong suốt trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ và tại phiên tòa hôm nay anh Th vẫn cố tình vắng mặt (không có lý do), nên không có văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án xem xét giải quyết.
Xét thấy, chị N và anh Th ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay là 07 năm không có hàn gắn tình cảm lại được; nguyên nhân do lỗi ở anh Th trong thời gian chung sống không quan tâm chăm lo cho vợ con, mà còn có quan hệ tình cảm và chung sống như vợ chồng với người phụ nữ khác tại tỉnh Bình Dương. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Vì vậy, căn cứ vào quy định trên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Phạm Văn Th là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Cháu Phạm Thị Kim Y, sinh ngày 29/7/2014 hiện đang sống với chị N; chị N có yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Y đến khi cháu Y đủ 18 tuổi, chị không có yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, hiện nay chị N đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y; từ khi chị và anh Th ly thân từ năm 2015 đến nay, chị N đã làm tròn nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cho cháu Y; hiện nay chị N đang có thu nhập ổn định tại Công ty may mặc ở huyện An Phú đủ để nuôi dưỡng cháu Y; đồng thời, cháu Y đã có văn bản trình bày nguyện vọng yêu cầu được tiếp tục sống với chị N. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N; giao cho chị N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Kim Y, đến khi cháu Y đủ 18 tuổi; anh Th khỏi phải cấp dưỡng nuôi con, do chị N không có yêu cầu là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa hôm nay, chị N trình bày để chị và anh Th tự thỏa thuận giải quyết với nhau, nếu không được thì sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác, hiện nay không có yêu cầu Tòa án giải quyết; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết là phù hợp theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N đối với anh Th; về việc ly hôn và nuôi con theo quy định pháp luật.
chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39 và Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N đối với anh Phạm Văn Th.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Phạm Văn Th.
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị N; giao cho chị N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Kim Y, sinh ngày 29/7/2014 đến khi cháu Y đủ 18 tuổi, anh Th khỏi phải cấp dưỡng nuôi cháu Y, do chị N không có yêu cầu cấp dưỡng.
anh Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: chị N không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, để chị và anh Th tự thỏa thuận giải quyết với nhau, nếu không được thì sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác sau khi ly hôn theo quy định pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, được trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo theo ký hiệu biên lai thu 14BE-21 số: 0001475 ngày 10/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình.
- Anh Phạm Văn Th không phải chịu tiền án phí ly hôn.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án; anh Th được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao (bản án) hoặc kể từ ngày Tòa niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Thanh Bình; - Chi cục THADS H. Thanh Bình; - UBND xã Đ; - Các đương sự; - Lưu Văn phòng và hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thành Triều |