vanban.org

Bản án 114/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 11/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 08 (Tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/01/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2021/HS-ST
Ngày 06-4-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Yên.

Ông Đỗ Đình Bản.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bình Phương - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2021/TLST-HS ngày 16/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2021/QĐXXST- HS ngày 22/3/2021 đối với bị cáo:

Hoàng Văn H, sinh năm 1986 tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Hoàng Văn T (Đã chết) và bà Phạm Thị N; bị cáo có vợ là Phạm Việt H (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2021 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn M, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03h00' ngày 24/01/2021 Hoàng Văn H chuẩn bị 01 chiếc tuốc nơ vít, 01 chiếc kìm, 01 thanh sắt hình chữ T cho vào túi nilon rồi đeo khẩu trang và găng tay đi bộ từ phòng trọ tại tiểu khu N, thị trấn N đến quán bán hàng tạp hóa của gia đình chị Nguyễn M, sinh năm: 1987, trú quán: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện M để trộm cắp tài sản. Khi đến quán H trèo lên cột điện để lên mái tôn rồi đột nhập vào quán bằng khe hở giữa mái tôn và cửa cuốn. Sau đó, H dùng thanh sắt hình chữ T vặn ốc tháo ra 02 tấm lợp trần nhà để đi vào khu vực bán hàng. Khi đi đến quầy thanh toán, H dùng đèn pin điện thoại để soi rồi mở ngăn kéo của quầy thấy bên trong có nhiều tiền, thẻ nạp điện thoại và chùm chìa khóa. H lấy một chiếc túi nilon trên mặt bàn rồi lấy hết số tiền và thẻ nạp điện thoại cho vào trong túi. Sau đó, H lấy chùm chìa khóa mở két sắt bên cạnh quầy thanh toán thấy trong két có nhiều tiền mệnh giá 500.000 đồng và nhiều hộp nhựa màu đỏ đựng đồ trang sức, H lấy toàn bộ số tiền, 04 chiếc nhẫn màu vàng, 01 dây chuyền, 01 lắc tay, 01 vòng tay màu vàng. H cho tiền, số trang sức vào túi nilon rồi cầm theo túi đựng dụng cụ để trộm cắp, bật công tắc điện mở cửa đi ra ngoài rồi về phòng trọ. Khi về đến phòng trọ, H mang toàn bộ số tiền trộm cắp ra đếm được 163.941.000 đồng rồi cất toàn bộ tài sản đã lấy trộm xuống gầm giường. Đến khoảng 9h ngày 24/01/2021 H lấy 1.800.000 đồng trả tiền phòng trọ cho bà Nguyễn Thị L. Sau đó, H mang toàn bộ số tiền và vàng trộm cắp đi lên thành phố S và chi tiêu hết số tiền 1.500.000 đồng. H khai làm rơi số tiền 45.741.000 đồng. Trong khi Hoàng Văn H đang lẩn trốn tại khu vực thành phố S, đến ngày 26/01/2021 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu phát hiện, bắt giữ. Thu giữ của Hoàng Văn H: Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 114.900.000 đồng; 01 dây chuyền kim loại màu vàng; 01 vòng tay kim loại màu vàng; 04 nhẫn kim loại màu vàng; 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note Fan Edition đã qua sử dụng.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ngày 24/01/2021, chị Nguyễn M có đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu.

Ngày 24/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành khám nghiệm hiện trường. Xác định nơi xảy ra vụ án là quán bán hàng tạp hóa của gia đình chị Nguyễn M tại tiểu khu N, thị trấn N. Phía Bắc giáp đường Quốc lộ 43. Phía Nam giáp nhà ở của gia đình anh Trần Minh H. Phía Đông giáp đường dân sinh tiểu khu N. Phía Tây giáp nhà ở của gia đình anh chị N. Quá trình khám nghiệm hiện trường ghi nhận các vị trí sau: Vị trí 1 là ô trần nhà kích thước 60x60cm bị cậy rời khỏi vị trí ban đầu. Vị trí 2 là ngăn tủ thứ hai của quầy thu ngân. Vị trí 3 là ngăn tủ thứ nhất của quầy thu ngân. Vị trí 4 là chiếc két sắt có cắm chìa khóa, cửa két được mở. Vị trí 6 là 04 hộp nhỏ màu đỏ hình tròn và 01 túi giấy màu xanh nhãn hiệu PNJ. Vị trí 7 là công tắc cửa cuốn. Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ: 03 hộp nhựa hình tròn màu đỏ đường kính 03cm; 01 hộp nhựa hình tròn màu đỏ đường kính 05cm; 01 túi giấy màu xanh nhãn hiệu PNJ, kích thước 12x8cm.

Ngày 26/01/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn H tại tiểu khu N, thị trấn N, huyện M. Quá trình khám xét thu giữ: 31 thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 20.000 đồng; 02 thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng; 01 áo phông cộc tay không cổ, màu xám, đã qua sử dụng; 01 khẩu trang màu xanh, dây đeo màu trắng, đã qua sử dụng; 01 quần vải màu đen đã qua sử dụng; 01 áo khoác màu nâu đã qua sử dụng; 01 đôi giầy da màu đen đã qua sử dụng; 01 đôi găng tay vải màu đỏ đã qua sử dụng; 01 tuốc nơ vít bằng kim loại, cán bằng nhựa màu vàng đen dài 24cm; 01 kìm bằng kim loại cán bọc nhựa màu đỏ đen, đã qua sử dụng; 01 thanh sắt hình chữ T bằng kim loại có cán bọc nhựa màu vàng, chiều dài 31cm; 01 túi xách bằng vải màu xanh đen, đã qua sử dụng.

Ngày 28/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu ra Quyết định trưng cầu giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định số tiền 114.900.000 đồng thu giữ của Hoàng Văn H là tiền thật hay tiền giả. Tại Kết luận giám định số 422 ngày 29/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật.

Ngày 28/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu ra Quyết định trưng cầu giám định Viện khoa học hình sự, Bộ Công an giám định số trang sức màu vàng thu giữ của Hoàng Văn H. Tại Kết luận giám định số 850 ngày 29/01/2021 của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an kết luận:

- 01 dây chuyền kim loại màu vàng ký hiệu A1 có tổng khối lượng 11,5 gam; phần kim loại màu vàng đều là vàng; hàm lượng trung bình Au: 99,46%, Ag: 0,54%.

- 01 vòng tay kim loại màu vàng ký hiệu A2 có tổng khối lượng 6,93 gam; phần kim loại màu vàng là hợp kim của đồng, vàng, kẽm, bạc; hàm lượng trung bình Cu: 46%, Au: 41,2%, Zn: 8,99%, Ag: 3,81%.

- 02 nhẫn kim loại màu vàng ký hiệu A3, A4 có khối lượng 7,5 gam đều là vàng; hàm lượng trung bình Au: 99,83%, Ag: 0,17%.

- 01 lắc tay kim loại màu vàng ký hiệu A5 có tổng khối lượng 3,13 gam, phần kim loại màu vàng đều là hợp kim của đồng, vàng, kẽm, bạc; hàm lượng trung bình Cu: 44,81%, Au: 41,51%, Zn: 9,03%, Ag: 4,65%.

- 01 nhẫn kim loại màu vàng ký hiệu A6 có tổng khối lượng 1,32 gam; phần kim loại màu vàng là hợp kim của đồng, vàng, kẽm, bạc; hàm lượng trung bình Cu: 45,40%, Au: 40,91%, Zn: 8,75%, Ag: 4,94%.

- 01 nhẫn kim loại màu vàng ký hiệu A7 có khối lượng 3,75 gam là vàng; hàm lượng Au: 99,84%, Ag: 0,16%.

Ngày 02/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện Mộc Châu định giá số trang sức vàng thu giữ của Hoàng Văn H. Tại Kết luận định giá tài sản số 01 ngày 02/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Mộc Châu kết luận: Số trang sức vàng tại thời điểm giám định có tổng trị giá: 49.275.000 đồng.

Ngày 02/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã trao trả cho bị hại Nguyễn M: 03 hộp nhựa hình tròn màu đỏ đường kính 03cm; 01 hộp nhựa hình tròn màu đỏ đường kính 05cm; 01 túi giấy màu xanh nhãn hiệu PNJ, kích thước 12x8cm; 31 thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 20.000 đồng; 02 thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng; 01 dây chuyền kim loại màu vàng; 01 vòng tay kim loại màu vàng; 01 lắc tay kim loại màu vàng; 03 nhẫn kim loại màu vàng.

Về bồi thường dân sự: Nguyễn M yêu cầu Hoàng Văn H bồi thường số tiền 50.000.000 đồng bao gồm số tiền 49.041.000 đồng và chi phí sửa chữa trần nhà. Hoàng Văn H chưa bồi thường cho Nguyễn M.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn H trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại bản Cáo trạng số 53/CT- VKS ngày 15 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội Trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Hoàng Văn H từ 07 năm tù đến 08 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Văn H phải bồi thường cho chị Nguyễn M số tiền 49.041.000 đồng và tiền chi phí sửa chữa trần nhà là 959.000đ, tổng cộng là 50.000.000đ.

- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã giao trả cho chị Nguyễn M một số tài sản gồm: 03 hộp nhựa hình tròn màu đỏ đường kính 03cm; 01 hộp nhựa hình tròn màu đỏ đường kính 05cm; 01 túi giấy màu xanh nhãn hiệu PNJ, kích thước 12x8cm bên trong đựng số tiền 114.900.000đ; 31 thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 20.000 đồng; 02 thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng; 01 dây chuyền kim loại màu vàng; 01 vòng tay kim loại màu vàng; 01 lắc tay kim loại màu vàng; 03 nhẫn kim loại màu vàng.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG - GALAXY NOTE FAN Edition số IMEI: 357872080460380, màu vàng, điện thoại đã qua sử dụng cũ thu giữ của bị cáo.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) áo phông cộc tay loại không cổ màu xám nhãn hiệu Owen; 01 (một) khẩu trang màu xanh; 01 (một) quần vải màu đen; 01 (một) áo khoác nhãn hiệu Weimo màu nâu; 01 (một) đôi giày da màu đen; 01 (một) đôi giăng tay vải màu đỏ đen; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại có cán nhựa màu vàng đen dài 24cm; 01 (một) kìm bằng kim loại cán bọc nhựa màu đỏ đen; 01 (một) thanh kim loại hình chữ T cán bọc nhựa màu vàng dài 31cm và 01 (một) chiếc túi xách vải màu xanh đen đều đã qua sử dụng cũ.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo Hoài có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ ] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ ] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu và khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai nhận của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản khám xét và vật chứng thu giữ; biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, bản ảnh vật chứng, kết luận giám định; kết luận định giá tài sản; lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/01/2021 Hoàng Văn H đã có hành vi lén lút bí mật trộm cắp tài sản của chị Nguyễn M gồm 163.941.000đ tiền VNĐ, 04 chiếc nhẫn màu vàng, 01 dây chuyền, 01 lắc tay, 01 vòng tay màu vàng, 31 chiếc thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 20.000đ, 02 chiếc thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 50.000đ. Tổng giá trị tài sản Hoàng Văn H đã trộm cắp là 213.936.000 đồng, mục đích để chi tiêu cá nhân. Hành vi trên của Hoàng Văn H đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng hình phạt "Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng" theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự, quy định mức hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng tệ nạn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và nhân thân: Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng đối với bị cáo.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[ ] Về trách nhiệm dân sự:

Đối với số tiền 49.041.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị hại mà bị cáo trộm cắp nhưng chưa bồi thường và chi phí sửa chữa trần nhà là 959.000đ, tại phiên tòa, bị hại chị Nguyễn M yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị số tiền trên. Xét yêu cầu của chị P là có cơ sở, căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bị cáo H phải bồi thường số tiền trên cho chị P.

[ ] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với một số tài sản đã thu hồi được gồm: 03 hộp nhựa hình tròn màu đỏ đường kính 03cm; 01 hộp nhựa hình tròn màu đỏ đường kính 05cm; 01 túi giấy màu xanh nhãn hiệu PNJ, kích thước 12x8cm bên trong đựng số tiền 114.900.000đ; 31 thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 20.000 đồng; 02 thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng; 01 dây chuyền kim loại màu vàng; 01 vòng tay kim loại màu vàng; 01 lắc tay kim loại màu vàng; 04 nhẫn kim loại màu vàng, xét là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn M, ngày 02/02/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã quyết định giao trả cho chị Nguyễn M là đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG - GALAXY NOTE FAN Edition số IMEI: 357872080460380, màu vàng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) áo phông cộc tay loại không cổ màu xám nhãn hiệu Owen; 01 (một) khẩu trang màu xanh; 01 (một) quần vải màu đen; 01 (một) áo khoác nhãn hiệu Weimo màu nâu; 01 (một) đôi giày da màu đen; 01 (một) đôi giăng tay vải màu đỏ đen; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại có cán nhựa màu vàng đen dài 24cm; 01 (một) kìm bằng kim loại cán bọc nhựa màu đỏ đen; 01 (một) thanh kim loại hình chữ T cán bọc nhựa màu vàng dài 31cm và 01 (một) chiếc túi xách vải màu xanh đen đều đã qua sử dụng cũ. Xét thấy, đây là những công cụ được bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[ ] Về các vấn đề khác: Đối với số tiền 1.800.000 đồng Hoàng Văn H trả cho bà Nguyễn Thị L, bà L không biết nguồn gốc số tiền trên là do H trộm cắp mà có. Do đó, không đề cập biện pháp xử lý.

[ ] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 08 (Tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/01/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585; 589 Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn M số tiền 49.041.000đ (Bốn mươi triệu, không trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) và chi phí sửa chữa trần nhà là 959.000đ (Chín trăm năm mươi chín nghìn đồng), tổng cộng là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã giao trả một số tài sản cho chị Nguyễn M quản lý gồm: 03 hộp nhựa hình tròn màu đỏ đường kính 03cm; 01 hộp nhựa hình tròn màu đỏ đường kính 05cm; 01 túi giấy màu xanh nhãn hiệu PNJ, kích thước 12x8cm bên trong đựng số tiền 114.900.000đ; 31 thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 20.000 đồng; 02 thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng; 01 dây chuyền kim loại màu vàng; 01 vòng tay kim loại màu vàng; 01 lắc tay kim loại màu vàng; 03 nhẫn kim loại màu vàng,

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG - GALAXY NOTE FAN Edition số IMEI: 357872080460380, màu vàng, điện thoại đã qua sử dụng cũ thu giữ của của bị cáo.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) áo phông cộc tay loại không cổ màu xám nhãn hiệu Owen; 01 (một) khẩu trang màu xanh; 01 (một) quần vải màu đen; 01 (một) áo khoác nhãn hiệu Weimo màu nâu; 01 (một) đôi giày da màu đen; 01 (một) đôi giăng tay vải màu đỏ đen; 01 (một) tuốc nơ vít bằng kim loại có cán nhựa màu vàng đen dài 24cm; 01 (một) kìm bằng kim loại cán bọc nhựa màu đỏ đen; 01 (một) thanh kim loại hình chữ T cán bọc nhựa màu vàng dài 31cm và 01 (một) chiếc túi xách vải màu xanh đen đều đã qua sử dụng cũ.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.500.000đ (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng).

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ