vanban.org

Bản án 114/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Xuân, TP. Hà Nội Tuyên án 17/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo NGUYỄN VĂN D phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s, điểm b khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo NGUYỄN VĂN D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 06/01/2020 đến ngày 07/01/2020.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Dương - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo NGUYỄN VĂN D phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tòa án nhân dân
Quận Thanh xuân
Thành phố Hà Nội
-------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2020/ HS-ST

Ngày: 17/06/2020

Nhân danh

Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Vân

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Tuyết

Ông Đỗ Quang Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Ánh Nguyệt

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Đào - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 17 tháng 06 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2020/TLST-HS ngày 22.05.2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 06 năm 2020 đối với bị cáo:

1. NGUYỄN VĂN D - Sinh năm 2000 tại Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và địa chỉ cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn):12/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1960; Con bà: Đặng Thị P, sinh năm 1960

Tiền án, tiền sự : Không

Bị cáo tạm giữ từ ngày 06/01/2020 đến ngày 07/01/2020. Hiện bị cáo tại ngoại, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa: Ông Vũ Minh T – Luật sư Công ty Luật hợp danh V.I.P (Đoàn luật sư thành phố Hà Nội). Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty TNHH HM; Địa chỉ: Tòa nhà A, số 3 đường T, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; Đại diện theo ủy quyền: Ông Tống Văn Đ. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Tân C, sinh năm 1973, trú tại: Tổ 38 đường T, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Vắng mặt

+ Anh Vũ Thế T, sinh năm 1970; trú tại: Căn T23 chung cư A, số 3 đường T, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong các ngày 26, 27 tháng 12/2019 NGUYỄN VĂN D đã thực hiện hai hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Thanh Xuân. Cụ thể:

Vụ thứ nhất:

Khoảng tháng 5/2018, NGUYỄN VĂN D ký hợp đồng với công ty TNHH HM để làm bảo vệ tại tòa nhà A, số 3 đường T, Khương Mai,Thanh Xuân, Hà Nội, đến tháng 8/2018 thì xin nghỉ việc. Thời gian làm bảo vệ tại đây, D phát hiện khu vực tầng hầm gửi xe có nhiều sơ hở trong việc trông giữ xe nên D nảy sinh ý định quay lại tòa nhà A để trộm cắp. Khoảng 22 giờ ngày 26/12/2019, D đón xe ôm đến chung cư A, đi thang máy xuống hầm B3, tại đây D quan sát thấy có 01 xe mô tô Honda Little Cub, màu vàng đeo BKS: 29AA-067.28 dựng gần cột D05 hầm B3. D đi đến dắt chiếc xe vào trong thang máy lên hầm B1 rồi dắt xe theo hướng ngược lên đường xuống của hầm để tránh bảo vệ phát hiện. Sau khi đưa chiếc xe ra ngoài D gọi một người xe ôm Grab thuê đẩy chiếc xe về cất tại phòng trọ của D tại nhà số 2 ngõ 204 đường G, phường K, Hoàng Mai, Hà Nội. Đến khoảng 10 giờ ngày 27/12/2019, D tháo BKS 29AA-067.28 rồi dắt chiếc xe trên ra quán sửa xe máy của anh Cung Ngọc S tại số 52 ngõ 250/50 đường G, phường K, Hoàng Mai, Hà Nội thay ổ khóa điện xe với giá 150.000 đồng. Tuy nhiên khi thay xong ổ khóa điện xe vẫn không khởi động được nên D dắt chiếc xe mô tô đi đến khu vực đô thị mới Kim Văn - Kim Lũ đường Nguyễn Xiển, Hoàng Mai, Hà Nội bỏ chiếc xe lại rồi đi về.

Chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Little Cub, màu vàng, BKS: 29AA-067.28, số khung: AA014026934, số máy: AA02E1028303 thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Tân C (sinh năm 1973, trú tại Tổ 38, đường T, Hoàng Mai, Hà Nội). Công an quận Thanh Xuân đã dẫn giải D đến nơi D để chiếc xe, nhưng quá trình kiểm tra không phát hiện thu giữ được. Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Xuân ra thông báo truy tìm vật chứng đối với chiếc xe mô tô trên nhưng đến nay vẫn chưa thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự, D đã tự nguyện nộp số tiền 80.000.000 đồng là tiền giá trị xe và tiền tổn thất do không có xe đi lại để công ty TNHH HM trao trả lại cho anh Nguyễn Tân C, anh Cảnh đã nhận lại đủ tiền, không có yêu cầu bồi thường về dân sự. Công ty TNHH HM đã có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho D.

Vụ thứ 2:

Khoảng 22h ngày 27/12/2019, D đi xe ôm đến chung cư A rồi xuống hầm chung cư để trộm cắp tài sản. Khi đi đến cột B05 - Hầm B3, D thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Cupthai HD50, màu trắng, BKS: 98AA-006.38, không có gương chiếu hậu, không khóa cổ, khóa càng. D dắt chiếc xe trên đi vào thang máy rồi đi lên hầm B1 đi ngược đường xuống ra khỏi hầm để tránh bảo vệ phát hiện. Sau khi đưa chiếc xe ra ngoài D gọi xe ôm đẩy xe mô tô về cất ở phòng trọ. Đến khoảng 10 giờ ngày 28/12/2019, D tháo BKS: 98AA-006.38 và lắp BKS 29AA-067.28 (của chiếc xe mô tô D đã trộm cắp ngày 26/12/2019) rồi mang ra quán sửa xe của anh Trần Văn T tại số 3/168 đường G, phường K, Hoàng Mai, Hà Nội thay ổ khóa điện của xe với giá 300.000 đồng rồi đi xe về phòng trọ. D sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi lại hàng ngày đồng thời vứt BKS 98AA-006.38 tại đầu ngõ 204/5 đường Kim Giang, Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội. Hiện chiếc BKS trên không thu hồi được.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Cupthai HD50, màu trắng, BKS: 98AA-006.38 thuộc quyền sở hữu của chị Hà Thu T sinh năm 1995; HKTT Số 139 đường T, TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Chị Hà Thu T đã sang CHLB Đức định cư nên đã giao chiếc xe cho anh Vũ Thế T (sinh năm 1970 trú tại tòa nhà A, số 3 đường T, Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội) quản lý sử dụng.

Ngày 07/01/2020, anh Nguyễn Tân C và Vũ Thế T đã làm đơn trình báo đến Công an phường Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội về việc bị mất cắp tài sản. Công an phường Khương Mai đã thu thập camera an ninh toà nhà A. Ông Tống Văn Đ là chỉ huy trưởng lực lượng an ninh của tòa nhà A và một số bảo vệ nhận dạng NGUYỄN VĂN D chính là đối tượng đã dắt hai chiếc xe mô tô ra khỏi toà nhà.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh xuân đã thu giữ của NGUYỄN VĂN D chiếc xe mô tô nhãn hiệu CUPTHAI HD50, màu trắng, số khung: B3L1AA034713, số máy: 139FMB034713 trả lại cho anh Vũ Thế T. Anh T đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác.

Tại cơ quan điều tra, NGUYỄN VĂN D khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 44/KLĐG ngày 05/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận Thanh Xuân xác định:

- 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA LITTLE CUB, màu vàng, biển số: 29AA-067.28, số khung: AA014026934, số máy: AA02E1028303, đã qua sử dụng có giá là 30.000.000 đồng.

- 01 xe môtô nhãn hiệu CUPTHAI HD50, màu trắng, biển số: 98AA-006.38, số khung: B3L1AA034713, số máy: 139FMB034713, đã qua sử dụng có giá là 3.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản D trộm cắp là 33.000.000 đồng

Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Xuân đã trưng cầu giám định xác định BKS 29AA-067.28 là giả. Anh Nguyễn Tân C xác định đây là biển số của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Little Cub, màu vàng, số khung: AA014026934, số máy: AA02E1028303 thuộc quyền sở hữu của anh nhưng anh không biết đây là biển số giả. Quá trình điều tra không làm rõ được thời điểm và người đã làm biển số giả nên không có căn cứ xử lý. Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Xuân chuyển biển kiểm soát trên đến Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân để xử lý theo quy định.

Đối với anh Cung Ngọc S và Trần Văn T là người thay ổ khoá xe cho D nhưng do không biết xe trộm cắp mà có nên CQĐT không xử lý.

Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 18.05.2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã truy tố NGUYỄN VĂN D về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay,

Bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng nêu là đúng. Bị cáo nhận thức được hành vi của mỡnh là phạm tội và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xột để cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s, điểm bmKhoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo NGUYỄN VĂN D từ 14 đến 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô số: 29AA-067.28. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận số tiền bồi thường, không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xét.

Người bào chữa cho bị cáo – Luật sư Vũ Minh Tiến: Mong Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; Lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Đã bồi thường khắc phục hậu quả để cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất bởi mức đề nghị hình phạt của đại diện viện kiểm sát là quá cao so với hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo D không bào chữa và tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên…

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra; phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, biên bản định giá tài sản... có đủ cơ sở khẳng định:

Trong các ngày 26/12/2019 và 27/12/2019, tại tầng hầm B3 tòa nhà A, số 3 Lê Trọng Tấn, Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội, NGUYỄN VĂN D đã thực hiện 2 hành vi trộm cắp 02 chiếc xe mô tô Honda Little Cub, màu vàng, BKS: 29AA-067.28 của anh Nguyễn Tân C có trị giá 30.000.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Cupthai HD50, màu trắng, BKS: 98AA-006.38 của anh Vũ Thế T có trị giá 3.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản NGUYỄN VĂN D đã trộm cắp là 33.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo NGUYỄN VĂN D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trong xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: 01 tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn và tại phiên tòa đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm b khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cũng giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về những vấn đề khác:

* Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận được số tiền bồi thường, không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xét.

*Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo bản thân không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về vật chứng, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô số: 29AA-067.28

* Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Quyết định

1. Tuyên bố bị cáo NGUYỄN VĂN D phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s, điểm b khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo NGUYỄN VĂN D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 06/01/2020 đến ngày 07/01/2020.

3. Những vấn đề khác:

* Về vật chứng, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô số: 29AA-067.28

(Tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 02/06/2020 giữa Công an quận Thanh Xuân và Chi cục thi hành dân sự quận Thanh Xuân).

* Án phí và quyền kháng cáo:

- Áp dụng: Điều 136, 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án và danh mức án phí lệ phí Toà án ngày 30/12/2016:

Bị cáo NGUYỄN VĂN D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cao , bị hại co mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

An xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ