vanban.org

Bản án 114/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 29/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Điểm c Khoản 1 Điều 250; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vận chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2020/HS-ST
Ngày: 29/7/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Ánh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Dung

Nghề nghiệp: Cán bộ

Nơi công tác: UBND phường An Phú, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

2. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng

Nghề nghiệp: Cán bộ

Nơi công tác: Phòng LĐTBXH quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân

dân quận Ninh Kiều.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hữu Hƣng – Kiểm sát viên.

Vào ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 107/2020/HSST, ngày 17 tháng 6 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2020/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 7 năm 2020; Đối với bị cáo:

- Họ và tên: NGUYỄN THỊ NGỌC T;

- Giới tính: Nữ;

- Tên gọi khác: Nghỉ

- Sinh ngày 20 tháng 12 năm 1984; - Nơi sinh: Kiên Giang;

- Nơi cư trú: Số 2C, khu vực Thạnh Hưng, phường Thường Thạnh, quận Cái

Răng, thành phố Cần Thơ;

- Quốc tịch: Việt Nam;

- Dân tộc: Kinh;

- Tôn giáo: Không;

- Trình độ học vấn: 9/12;

- Nghề nghiệp: Buôn bán

- Họ tên cha: Nguyễn Ngọc Kiệt, sinh năm 1962;

- Họ tên mẹ: Huỳnh Thị Bé, sinh năm 1964;

- Em ruột: có 01 người, sinh năm 1990;

- Bị cáo chưa có chồng, con;

- Tiền án: 01 lần, ngày 22/12/2014 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xử phạt

07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong 01/02/2019;

- Tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 11/3/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Ninh Kiều.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 40 phút ngày 11/3/2020, lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Cần Thơ kết hợp với Công an phường Cái Khế, quận Ninh Kiều trên đường tuần tra, khi đến trước nhà nghỉ Vườn Tơ Hồng, khu vực 3 Cồn Khương, phường Cái Khế phát hiện Nguyễn Thị Ngọc T điều khiển xe mô tô biển số 59F1- 002.74 nên yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Tuyền khai nhận có mang theo ma túy nên lực lượng tiến hành khám xét khẩn cấp, thu giữ những tang vật sau:

- 01 gói nilon không màu hàn kín và 01 đoạn ống nhựa không màu hàn kín bên trong có chứa tinh thể không màu (thu giữ bên trong túi quần jean bên phải phía sau mà Tuyền đang mặc);

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen;

- 01 xe mô tô biển số 59F1-002.74, số khung N9H-016369, số máy MHV-00316369.

Tại Kết luận giám định số: 103/KL - PC09 ngày 17/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon (kí hiệu M1) gửi giám định, được niêm phong có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Ngọc T là ma túy, khối lượng 0,0824 gam, loại Methamphetamine và tinh thể không màu trong đoạn ống nhựa (kí hiệu M2), gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,0214 gam, loại Methamphetamine.Tổng khối lượng: 0,1038 gam ma túy, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra Nguyễn Thị Ngọc T khai nhận: Bị cáo có sử dụng ma túy đá. Vào khoảng 18 giờ ngày 11/3/2020, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 59F1-002.74 chạy qua xóm Chài, phường Hưng Phú, quận Cái Răng gặp một thanh niên (không rõ tên thật, địa chỉ) mua 01 gói ma túy giá 200.000 đồng. Sau khi mua ma túy, bị cáo cất giấu vào túi quần phía sau bên phải đang mặc; riêng đoạn ống nhựa có chứa ma túy là của bị cáo mua ngày 10/3/2020 hút còn dư nên mang theo trên người. Bị cáo đã mua ma túy của đối tượng ở phường Hưng Phú, quận Cái Răng 02 lần, ngoài ra nhiều lần mua ma túy của người tên Xuân, Giàu, Đạt (không rõ lai lịch) mỗi lần giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng.

Đối với xe mô tô biển số 59F1 - 002.74, bị cáo khai mua của 01 người không rõ lai lịch ở thành phố Hồ Chí Minh với giá 1.500.000 đồng. Qua xác minh xe mô tô biển số 59F1-002.74 do Nguyễn Ngọc Duy, địa chỉ 453/176 Lê Văn Sỹ, phường 12, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh là chủ sỡ hữu. Tuy nhiên, theo xác minh thì không có người tên Duy tại địa chỉ trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ninh Kiều, đã thông báo truy tìm chủ sỡ hữu theo quy định.

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị can Tuyền ở xóm Chài, phường Hưng Phú, quận Cái Răng và các đối tượng tên Xuân, Giàu, Đạt, do chưa rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ninh Kiều, sẽ xác minh xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKSNK, ngày 12 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo và xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Điều 52; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng:

-Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 76/KL-PC09, ngày 28/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ.

-Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 01 điện thoại di động hiệu NoKia 106 (TA-1114) màu đen, imei:352882100900161, đã qua sử dụng, do không liên quan vào việc phạm tội.

-Đối với xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh đen, biển số 59F1-002.74, số loại: 110, số máy: FMHV-00316369, số khung: MN9H016369, dung tích: 107. Xe cũ, nguyên chiếc, sứt mẻ, không đèn sau, rỉ sét, hư hỏng, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong. Bi cáo đã dùng vào việc phạm tội, tiếp tục thông báo theo quy định của Bộ luật dân sự, hết thời hạn không tìm được chủ sở hữu đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra và truy tố đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không khiếu nại gì về thủ tục tố tụng.

[2]. Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T thừa nhận, do bản thân nghiện ma túy, nên vào khoảng 18 giờ, ngày 11/3/2020, bị cáo có điều khiển xe mô tô biển số 59F1-002.74 chạy qua xóm Chài, phường Hưng Phú, Quận Cái Răng gặp một người không rõ họ, tên thật và địa chỉ mua một gói ma túy với số tiền 200.000 đồng, sau khi mua gói ma túy, cùng với một đoạn ống nhựa ma túy mua trước đó đã sử dụng còn dư, bị cáo để ở túi quần phía sau bên phải, sau đó điều khiển xe chạy về trước nhà nghĩ Vườn Tơ Hồng, khu vực 3, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thì bị Cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện và bắt giữ. Tại bản kết luận giám định số 103/KL-PC09 ngày 17/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận:

Tinh thể không màu trong gói ni lon ( kí hiệu M1) và tinh thể không màu trong đoạn ống nhựa ( kí hiệu M2) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,1038 gam, loại Methamphetamine.

Lời thừa nhận của bị cáo sau khi mua ma túy vận chuyển về mục đích để sử dụng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa chưa chứng minh được bị cáo vận chuyển ma túy vể để bán lại, lời khai này phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Tác hại của ma túy là rất lớn đối với đời sống sức khỏe cộng đồng, làm suy giảm sức lao động, sản xuất trong xã hội, ma túy là chất gây nghiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người sử dụng, nhất là tác hại của các loại ma túy ở thể rắn (Ma túy đá) hiện bị cáo vận chuyển trong vụ án này. Ngoài ra, cũng từ nghiện ma túy mà mầm mống làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Nhà nước nghiêm cấm mọi việc tàng trữ, vận chuyển và mua bán,…các chất ma túy. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như biết rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bản thân đã có tiền án về tội mua bán trái pháp chất m túy, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội, nên phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào như bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân cũng đang bị bệnh.

[3].Về xử lý vật chứng: Như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật.

[4]Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào:

-Điểm c Khoản 1 Điều 250; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

-Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 03 ( Ba) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày 11/3/2020

Về xử lý vật chứng:

-Tịch thu tiêu hủy gói niêm phong là ma túy số 103/KL-PC09, ngày 17/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ.

-Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 01 điện thoại di động hiệu NoKia 106 (TA-1114) màu đen, imei:352882100900161, đã qua sử dụng.

-Tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm kiếm chủ sở hữu đối với xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh đen, biển số 59F1-002.74, số loại: 110, số máy: FMHV-00316369, số khung: MN9H016369, dung tích: 107. Xe cũ, nguyên chiếc, sứt mẻ, không đèn sau, rỉ sét, hư hỏng, đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong. Hết thời hạn không báo theo quy định tại Điều 228 Bộ luật dân sự, mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Kiến nghị Cơ quan điều tra công an quận Ninh Kiều tiếp tục điều tra xác minh các đối tượng tên Giàu, Xuân, Đạt người đã bán ma túy cho bị cáo để xử lý theo quy định.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ