- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê T. S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê .T.S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114 /2019/HS-ST. Ngày: 31- 12-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Cát Phương - Hiệu trưởng trường THCS Phước An, huyện Nhơn Trạch.
Bà Phan Thị Hiếu – Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên Tòa: Bà Lê Thị Oanh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 116/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2019, đối với bị cáo:
Lê .T.S( tên gọi khác: Cá Sấu ), sinh ngày 30/6/2002 tại tỉnh Cà Mau. Nơi ĐK HKTT: TT. TB, H.TB, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở hiện nay: ấp BC, xã PT, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; Dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: không biết chữ, Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: bán vé số; con ông Phạm Văn Điệp - sinh năm 1963 và bà Lê Hồng Thúy – sinh năm 1961; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2019 đến ngày 26/3/2019 được tại ngoại điều tra (có mặt ).
Bị hại: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1972 ( vắng mặt ).
Địa chỉ: ấp 11, xã Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Tạm trú: ấp Trầu, xã Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Lê Hồng Thúy, sinh năm 1961( có mặt ).
Nơi ĐK HKTT: TT. TB, H.TB, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở hiện nay: ấp BC, xã PT, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị Huân là Trợ giúp viên pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đồng Nai ( có mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 12/3/2019, Lê .T.S đi bộ từ chợ Bắc xuống nhà trẻ Hoa Sen thuộc ấp Trầu, xã Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch, nhằm mục đích tìm người có sơ hở để trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi ngang qua nhà chị Ngô Thị T. S thấy có 1 xe mô tô hiệu Honda Wave anpha, biển số 60T3-0863 của chị T đang dựng phía trước cổng nhà không có người trông coi nênS nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên. S liền lẻn vào thấy xe không khóa cổ nênS trộm cắp và đẩy xe mô tô trên đến tiệm sửa xe Đình Trí ở ấp Trầu, xã Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch do anh Nguyễn Đình Trí, sinh năm 1980 làm chủ để mượn tua vít mở mặt nạ xe và cắt dây điện ổ khóa để nổ máy rồiS chạy xe đến khu phố Phước Kiểng, thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai bán cho anh Dương Hữu Phước, sinh năm 1995, tạm trú khu phố Phước Kiểng, thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai với giá 1.500.000đ. Anh Phước đưa choS 700.000đ. còn thiếu lại 800.000đ. Anh Phước về tháo biển số xe 60T3-0863 ra và găn biển số xe 60S1-7606 vào sử dụng.S cầm 700.000đ tiêu xài hết. Đến ngày 17/3/2019, nhận thấy hành vi của mình là sai trái nênS đến Công an xã Phước Thiền đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tang vật vụ án:
+ 01 xe Honda Wave anpha, biển số 60T3-0863 đã trả cho chị Ngô Thị T.
+ Biển số xe 60S1-7606 và số tiền 700.000đ ( không thu giữ được ).
Tại kết luận định giá số: 45/BB.HĐĐG/2019 ngày 26/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Nhơn Trạch đã kết luận: Xe hoda Wave anpha, biển số 60T3-0863 có giá trị sử dụng còn lại 30%, trị giá là 6.500.000đ.
Tại kết luận giám định pháp y số: 0251/TGT/2019 ngày 27/3/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận anh Lê .T.S có độ tuổi là 17 tuổi ( +/-06 tháng ) kể từ ngày giám định 21/3/2019.
Quá trình điều tra chị Ngô Thị T đã nhận lại tài sản và làm đơn bãi nại cho Lê ThanhS.
Tại bản cáo trạng số 98/CT.VKS-NT ngày 6/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Lê .T.S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ Lê .T.S từ 08 đến 10 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa: Thống nhất với Viện kiểm sát về tội danh và tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên đối với vụ án này khi phạm tội cũng như thời điểm hiện nay bị cáo vẫn chưa thành niên, không cần thiết phải xét xử phạt hình tù giam đối với bị cáo. Nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo hòa nhập cộng đồng.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên Tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo Lê .T.S không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nhơn Trạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về trách nhiệm hình sự: Vào ngày 12/3/2019, Lê .T.Sđã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe Honda Wave anpha, biển số 60T3-0863, trị giá 6.500.000đ của chị Ngô Thị T tại ấp Trầu, xã Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch. Đến ngày 17/3/2019, nhận thấy hành hành vi của mình là sai trái nên S đến Công an xã Phước Thiền đầu thú hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội nên có đủ căn cứ và cơ sở để xác định hành vi của bị cáo Lê .T.S phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng số 98/CT.VKS-NT ngày 6/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo Lê .T.S có nhân thân tốt.
Tính chất, mức độ của hành vi: Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội gây thiệt hại không lớn, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 cho bị cáo khi quyết định hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự. Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng T Điều 91, 101 BLHS cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét thấy bị cáo S có nhân thân tốt không tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gia tại ngoại không vi phạm gì thể hiện việc tự cải tạo bản thân tốt, khi phạm tội cũng như hiện nay chưa đủ 18 tuổi nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù giam mà cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 BLHS và ấn định thời gian thử thách là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với anh Dương Hữu Phước có hành vi mua xe mô tô hiệu Honda Wave anpha, biển số 60T3 -0863, do anh Phước không biết xe mô tô trên do Lê .T.Strộm cắp mà có, nên không có căn cứ xử lý.
. Về xử lý vật chứng:
+ 01 xe Honda Wave anpha, biển số 60T3-0863 đã trả cho chịNgô Thị T là đúng qui định.
Đối với biển số xe 60S1- 7606 và số tiền 700.000đ do anh Dương Hữu Phước đưa cho Lê .T.S để mua xe, do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Nhơn Trạch chưa làm rõ nguồn gốc biển số 60S1-7606 và yêu cầu của anh Phước đối với số tiền 700.000đ đã đưa choS. Hiện anh Phước đã bỏ đi khỏi địa phương nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch không làm việc được với anh Phước để làm rõ nội dung trên, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch tách ra điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp.
. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi trả lại bị hại, bị hại đã bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì T nên không đặt ra giải quyết.
. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Lê .T.S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát chưa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Lê .T.S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Lê .T.S 08 ( tám ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 ( mười sáu ) tháng , tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê .T.S phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc được niêm yết, tống đạt hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo, Nguyên đơn ds; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Nhơn Trạch; - Công an huyện Nhơn Trạch; - Thi hành án; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Đình Hiền |