- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho chị Ngô Thị D được ly hôn anh Nguyễn Thái S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 114/2019/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 10 - 2019 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Anh;
2. Ông Cao Khắc Hùng;
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoan -Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 73/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2019 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXX-ST ngày 10/9/2019giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Ngô Thị D - sinh năm 1987.
Nơi đăng ký NKTT: Thôn KC, xã CK, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: Xóm HB, xã NL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An.
Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: anh Nguyễn Thái S – sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn KC, xã CK, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI D VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 15/5/2019, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Ngô Thị D trình bày: giữa chị và bị đơn anh Nguyễn Thái S kết hôn với nhau vào ngày 10/10/2012 tại UBND xã CK, huyện Con Cuông, tinh Nghệ An, Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc cho đến đầu năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xô xát, cãi vã, chửi bới, xúc phạm lẫn nhau. Nguyên nhân là do anh S không tu chí làm ăn, nghiện hút, rượu chè bê tha về đánh đập khiến chị phải nhập viện điều trị nhiều lần. Việc mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được hai bên gia đình nội ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, vì vậy mà từ tháng 2/2015 cho đến nay vợ chồng chị không còn sống chung với nhau nữa. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn bị đơn anh Nguyễn Thái S.
- Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng chị có một người con chung tên là Nguyễn Thái Anh K, sinh ngày 17/4/2013. Hiện nay cháu đang sống cùng với chị tại Xóm HB, xã NL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh S cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung: chị và anh Nguyễn Thái S thỏa thuận tự chia không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có.
Qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n vµ t¹i phiªn tßa s¬ thÈm, bị đơn anh Nguyễn Thái S v¾ng mÆt mÆc dÇu ®· ® îc Tßa ¸n triÖu tËp hợp lệ nhiÒu lÇn nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội D: Đề nghị Hôi đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình: xử cho chị Ngô Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Thái S; về con: giao con chung Nguyễn Thái Anh K cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Kiệt trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng cho anh S; về tài sản: chị D và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; về án phí: chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con: bị đơn hiện cư trú tại Thôn KC, xã CK, huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Ngô Thị D có đơn xét xử vắng, bị đơn anh Nguyễn Thái S đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chưa thành niên sau khi ly hôn nên theo quy định, Tòa án xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp tại UBND xã CK, huyện Con Cuông là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội D: xét chị Ngô Thị D và anh Nguyễn Thái S đăng ký kết hôn ngày 10/10/2012 tại UBND xã CK, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy hôn nhân là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn do anh S nghiện ma túy, không tu chí làm ăn, thường xuyên rượu chè bê tha về hành hạ đánh đập vợ con. Hiện nay vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa. Như vậy, chị D và anh S đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng, không sống chung với nhau mà không có lý do chính đáng.
Tại phiên tòa anh S vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy giữa vợ chồng chị D và anh S thường xuyên xảy ra mâu thuân do anh S nghiện ma túy, thường xuyên rượu chè bê tha về đánh đập vợ con vì vậy mà hai vợ chồng đã không còn sống chung với nhau nữa.
Xét thấy, giữa chị D và anh S mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì thế cần cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho chị Ngô Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Thái S.
Về con chung: Chị D và anh S có một con chung là Nguyễn Thái Anh K, sinh ngày 17/4/2013. Hiện cháu đang sống với chị D, quá trình giải quyết vụ kiện chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy khi cha, mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về vật chất và tinh thần. Như vậy nguyện vọng của chị D là chính đáng, thể hiện tinh thần và trách nhiệm của người mẹ dành cho con. Mặt khác qua các minh hiện nay anh S không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh S nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho con. Hồi đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận giao con chung là Nguyễn Thái Anh K cho chị D trược tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Thái S.
Về tài sản chung: do các đương sự đã tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: chị Ngô Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, 207, 227, 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho chị Ngô Thị D được ly hôn anh Nguyễn Thái S.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thái Anh K, sinh ngày 17/4/2013 cho chị Ngô Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến cháu Kiệt tròn 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Thái S.
Anh S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu anh S lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Chị D cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Ngô Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0007421 ngày 01/7/2019.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết. (đã ký)
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H. Con Cuông; - Chi cục THADS H. Con Cuông; - UBND xã CK; - Lưu Hồ sơ, VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Phan Hồng Lợi |