vanban.org

Bản án 114/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: - Hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị A, chị A ly hôn với anh L.

Con chung: An, sinh ngày 17/02/2016 giao cho chị A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: - Hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị A, chị A ly hôn với anh L.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH,
TỈNH CÀ MAU
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:114/2018/HNGĐ-ST
Ngày 31 - 8 - 2018
V/v Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Miễn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hữu Hiệp

Ông Trần Công Đẳng

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Anh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 31 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2018/TLST/HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2018 về việc ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2018/QĐST - HNGĐ ngày 25/7/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị A, sinh năm 1991 Cư trú: huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; có mặt.

- Bị đơn: Anh L, sinh năm 1990 Cư trú: huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị A và anh L kết hôn năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Anh chị chung sống đến cuối năm 2017 thì ly thân cho đến nay. Lý do ly thân là do mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, anh L ghen tuông vô cớ nên thường xuyên xảy ra cự cải nhau. Gia đình cha mẹ hai bên có hòa giải nhưng không có kết quả tốt. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, thấy không thể duy trì cuộc sống chung và hạnh phúc nên chị A yêu cầu được ly hôn với anh L; anh L chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A.

Con chung: An, sinh ngày 17/02/2016 hiện đang do chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Chị A yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con; không yêu cầu anh L cấp dưỡng cho con.

Tài sản chung: Anh L, chị A không yêu cầu Tòa án phân chia.

Nợ chung: Chị A xác định không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Anh L là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện U Minh triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng tại phiên hòa giải, xét xử sơ thẩm nhưng anh L không đến. Theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L.

Hôn nhân: Anh L và chị A kết hôn năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn và anh chị đã ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không có tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng; mâu thuẫn này được gia đình cha mẹ hai bên hòa giải nhưng không đem lại kết quả tốt. Từ những lý do trên, chị A yêu cầu được ly hôn, yêu cầu này của chị A được anh L chấp nhận.

Xét thấy việc chị A và anh L có nhiều mâu thuẫn dẫn đến anh chị không còn hạnh phúc. Anh chị đã ly thân, không còn chăm sóc, lo lắng gì đến nhau, tình cảm thương yêu vợ chồng không còn. Điều này đã chứng minh anh chị không thể có cuộc sống chung và hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A.

Con chung: An, sinh ngày 17/02/2016 hiện đang do chị A trực tiếp nuôi dưỡng; chị A yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con; yêu cầu này của chị A phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Cấp dưỡng cho con: Chị A không yêu cầu anh L cấp dưỡng cho con, nên không giải quyết trong vụ án này.

Tài sản chung: Chị A, anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia nên không giải quyết trong vụ án này.

Nợ chung: Chị A xác định không.

Án phí: Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, chị A phải chịu án phí dân sự về hôn nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81; khoản 3 Điều 82 - Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147 - Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: - Hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị A, chị A ly hôn với anh L.

Con chung: An, sinh ngày 17/02/2016 giao cho chị A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân chị A phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0012047 ngày 18/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh; chị A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ