vanban.org

Bản án 114/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

nhân và gia đình 2014; Điều 28, 35, 39, 144, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự

được sửa đổi bổ sung năm 2015; Pháp lệnh số 10/2009/PL – UBTVQH 12 ngày 02.2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? nhân và gia đình 2014; Điều 28, 35, 39, 144, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 114/2017/HNGĐ-ST

HUYỆN CHỢ MỚI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Ngày: 28.7.2017. V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG Với

thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Ngọc Trang. - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Thiện Lai 2. Ông Trương Phước Công - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không tham gia phiên toà. Ngày 28 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2017/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2017 về việc tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2017/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 145/2017/QĐST- HNGĐ ngày 18.7.2017 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1978 (có mặt). Địa chỉ: Ấp PT 2, xã K A, huyện C M, tỉnh An Giang. 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Quý S, sinh năm 1972 (có mặt). Địa chỉ: Ấp L T, xã K A, huyện C M, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07.3.2017, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L trình bày: Chị và anh S do người mai mối tổ chức lể cưới năm 1993, năm 2003 đăng kết hôn tại UBND xã Kiến An, sống chung hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẩn, năm 2012 không còn chung sống đến nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm, anh S không lo làm ăn, không quan tâm gia đình. Nay tình cảm không còn chị xin ly hôn với anh S. * Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Thanh V, sinh ngày 06.4.1994 đã trưởng thành và Nguyễn Thanh P, sinh ngày 08.01.2001 hiện nay sống chung với chị khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Về nợ chung: Không có. Tòa án đã thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ anh S đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhưng anh vắng mặt và cũng không gởi ý kiến cho Tòa án xem xét. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Chị Nguyễn Thị Kim L xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Quý S có nơi cư trú ấp Long Thượng, xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Chị và anh S do mai mối dẫn đến kết hôn vào năm 1993 đến năm 2003 anh chị đăng kết hôn, chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì không còn chung sống đến nay. Chị L cho rằng không còn tình cảm xin ly hôn với anh S. [3] Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn Quý S trình bày: Anh và chị Lkết hôn năm 1993, có đăng ký kết hôn, năm 2012 thì phát sinh mâu thuẩn và không còn chung sống đến nay. Do đi làm ăn ở xa, gia đình có nhận giấy triệu tập nhưng anh không về được, nay anh không đồng ý ly hôn. Nhận thấy trong quá trình anh chị chung sống phát sinh nhiều mâu thuẩn anh chị không tìm hiểu để hài hòa nhau trong sinh hoạt mà tự sống xa nhau, mỗi người đi một nơi làm ăn sinh sống đến nay hơn 5 năm, tình cảm không còn, do vậy chị Lxin ly hôn Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị L. [4] Về con chung: Nguyễn Thanh V, sinh ngày 06.4.1994 đã trưởng thành, Nguyễn Thanh P, sinh ngày 08.01.2001 hiện nay sống chung với chị L, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, Cháu Phong có tự khai trình bày nguyện vọng muốn được tiếp tục sống với chị L, do đó Hội đồng xét xử giao cho chị Ltiếp tục nuôi dưỡng cháu Phong cho đến thành niên. Chị Lkhông có yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Về tài sản chung: Anh S và chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. [6] Về nợ chung: Ghi nhận anh, chị trình bày là không có. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị vẫn phải Lđới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với anh Nguyễn Văn Quý S. 2- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim L được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thanh P, sinh ngày 08.01.2001. Anh Nguyễn Văn Quý S không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn Quý S không trực tiếp nuôi con chung nhưng có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai được ngăn cản anh thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con. 3- Về tài sản: Chị L, anh S không có yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Ghi nhận anh, chị trình bày là không có. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị vẫn phải Lđới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. 4- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0013696 ngày 13.3.2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới. Chị L không phải nộp thêm. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ