- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1138/2022/HNGĐ-ST. Ngày: 26/7/2022. Về việc “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mạnh Đoan Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thực;
Ông Phạm Văn Thanh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Danh Đời – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 26 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án thụ lý số 351/2022/TLST-HNGĐ ngày 14/7/2022 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3621/2022/QĐXXST-DS ngày 20/7/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1978, (xin vắng mặt).
Địa chỉ: 5909 St Margarets st, Vancouver, British Columbia, V5R3H6, Canada.
- Bị đơn: Ông Phạm Quang H, sinh năm 1975.
Địa chỉ: 86/188 đường Ông Ích K, Phường S, Quận T, TP. Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung Đơn khởi kiện ngày 17/6/2022, nguyên đơn bà Lê Thị Thu H trình bày: Về quan hệ hôn nhân, bà Hằng và ông Phạm Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân phường Cát Dài, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 18, quyển 01/98 ngày 20/3/1998. Sau khoảng thời gian chung sống, cuộc sống vợ chồng càng về sau càng nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sau đó bà Hằng đi nước ngoài định cư, từ đó hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Bà Hằng xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Phạm Quang H.
Về con chung: Bà Hằng khai bà và ông Hòa có 02 người con tên: Phạm Quang Hiệp, sinh ngày 15/8/1998 (đã thành niên) và Phạm Quang Hải Anh, sinh ngày 19/02/2006. Bà Hằng yêu cầu sau khi ly hôn, bà Hằng là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Quang Hải Anh và không yêu cầu ông Hòa cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Hằng khai hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, bà Hằng đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Theo nội dung Bản tự khai ngày 19/7/2022, bị đơn ông Phạm Quang H trình bày: Ông Hòa xác nhận những lời trình bày của bà Hằng về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay bà Hằng yêu cầu ly hôn, ông đồng ý ly hôn và đồng ý yêu cầu của bà Hằng về việc bà Hằng là người trực tiếp nuôi con chung tên Phạm Quang Hải Anh, sinh ngày 19/02/2006 và ông không cấp dưỡng cho con. Đối với con chung tên Phạm Quang Hiệp, sinh ngày 15/8/1998 do đã thành niên nên ông không có yêu cầu gì. Đồng thời, ông Hòa đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Theo Bản trình bày ý kiến ngày 19/7/2022 của con chung – Phạm Quang Hải Anh: Trường hợp Tòa án chấp nhận cho cha mẹ của cháu ly hôn, cháu Hải Anh có nguyện vọng được sống chung với Mẹ là bà Lê Thị Thu H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án:
Xét thấy, bà Lê Thị Thu H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Quang H và bà Hằng hiện đang cư trú ở nước ngoài nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết vụ án về hôn nhân gia đình là đúng về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Xét Đơn khởi kiện, Bản tự khai, Đơn xin vắng mặt, Giấy ủy quyền của nguyên đơn đã được xác nhận chứng thực hợp pháp hóa lãnh sự của Tổng Lãnh sự quán nước CHXHCN Việt Nam tại Vancouver - Canada nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thu H, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Qua lời trình bày của bà Hằng và ông Hòa, có cơ sở xác định: Bà Hằng và ông Hòa có sống chung với nhau như vợ chồng, sau đó tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18, quyển 01/98 do Ủy ban nhân dân phường Cát Dài, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng cấp ngày 20/3/1998, tại thời điểm sống chung và đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa bà Hằng và ông Hòa là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, sau đó bà Hằng đi định cư ở nước ngoài, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt; hai bên đang sinh sống và làm việc ở hai nước khác nhau nên không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà Hằng yêu cầu được ly hôn với ông Hòa, ông Hòa cũng đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của bà Hằng và ông Phạm Quang H.
- Về con chung: Bà Hằng và ông Hòa có 02 (hai) người con chung tên Phạm Quang Hiệp, sinh ngày 15/8/1998 (đã thành niên) và cháu Phạm Quang Hải Anh, sinh ngày 19/02/2006, bà Hằng yêu cầu sau khi ly hôn bà Hằng là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Quang Hải Anh và không yêu cầu ông Hòa cấp dưỡng. Xét thấy, theo bản tự khai ngày 19/7/2022, ông Hòa đồng ý với yêu cầu nêu trên của bà Hằng; theo bản trình bày ý kiến ngày 19/7/2022, con chung có nguyện vọng được sống chung với mẹ, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của các bên.
- Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Hằng và ông Hòa tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí về ly hôn trong vụ việc hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Hằng phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 228, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1978 và ông Phạm Quang H, sinh năm 1975.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Thu H và ông Phạm Quang H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18, quyển 01/98 do Ủy ban nhân dân phường Cát Dài, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng cấp ngày 20/3/1998 cho bà Hằng và ông Hòa hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Về con chung: Bà Hằng và ông Hòa có 02 (hai) người con chung tên Phạm Quang Hiệp, sinh ngày 15/8/1998 và Phạm Quang Hải Anh, sinh ngày 19/02/2006. Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Hằng và ông Hòa về việc giao hai con chung tên Phạm Quang Hải Anh, sinh ngày 19/02/2006 cho bà Hằng trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con chung tên Phạm Quang Hiệp, sinh ngày 15/8/1998 do đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về cấp dưỡng: Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con đối với ông Phạm Quang H cho đến khi phát sinh yêu cầu.
1.4. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Thu H phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà Hằng đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0002626 ngày 13/7/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Hằng đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Ông Phạm Quang H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bà Lê Thị Thu H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân cấp cao tại TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Cục Thi hành án dân sự TP.HCM; - UBND Phường 14, Quận 11, TP.HCM; - UBND P.Cát Dài, Q.Lê Chân, TP.Hải Phòng; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án, (Đời-Trg), 17. HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Ngọc Thực Phạm Văn Thanh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Mạnh Đoan Trang HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Mạnh Đoan Trang |