vanban.org

Bản án 113 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kim Ngân-Thái Phát"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
HUYEÄN BÌNH CHAÙNH
THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Baûn aùn soá:113 /2018/HNGÑ-ST
Ngaøy: 03-8-2018.
V/v Tranh chaáp ly hoân

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BÌNH CHAÙNH THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Nguyễn Thị Thúy Oanh.

2.Bà Nguyễn Thị Nguyên.

Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Mỹ Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2018, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 350/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 299/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim Ng, sinh năm 1985.

Địa chỉ: 231/51A Dương Bá Trạc, phường 1, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Ông Huỳnh Thái Ph, sinh năm 1982.

Địa chỉ: 1A235 ấp 1, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong ñôn xin ly hoân ngày 15 tháng 3 năm 2018, baûn töï khai, biên bản hòa giải vaø taïi phieân toøa nguyeân ñôn baø Trần Thị Kim Ng trình baøy:

Bà Trần Thị Kim Ng và ông Huỳnh Thái Ph tự nguyện kết hôn, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí MInh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 19/5/2015. Thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc và có 01 con chung tên là Huỳnh Thanh H (nữ), sinh ngày 23/01/2016. Sau khi kết hôn bà và ông Ph sống tại 234531/51A Dương Bá Trạc, phường 21, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh, cho đến tháng 3 năm 2018 thì bà và ông Ph sống ly thân với nhau. Ông Ph về xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh sống cho MAÃU 52/NQ01/2017 đến nay.

Trong thời gian chung sống, bà Ng và ông Ph thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, không còn yêu thương quý trọng lẫn nhau. Hai bên đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2018. Nay bà Ng nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Ph.

Về con chung: Khi ly hôn, bà Ng yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Huyền. Tại đơn khởi kiện bà yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng, sau đó bà Ng có thay đổi về mức cấp dưỡng nuôi con. Cụ thể bà yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 03 triệu đồng.

Trường hợp Tòa án xử giao trẻ Huỳnh Thanh Huyền cho ông Ph trực tiếp nuôi dưỡng thì bà Ng tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/ tháng cho đến khi trẻ Huyền thành niên.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra bà Ng không có yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Thái Ph trình bày:

Ông Huỳnh Thái Ph xác nhận ông và bà Trần Thị Kim Ng tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015 và hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 19/5/2015. Thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc và có 01 con chung tên là Huỳnh Thanh Huyền (nữ), sinh ngày 23/01/2016. Sau khi kết hôn ông và bà Ng sống tại 234531/51A Dương Bá Trạc, phường 1, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh, cho đến tháng 3 năm 2018 thì ông và bà Ng Ph sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai đã sống ly thân với nhau từ tháng 3 năm 2018. Ông Ph về xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh sống cho đến nay.

Trong thời gian chung sống, vợ chồng Ph sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và tiền bạc, ngoài ra không có mâu thuẫn gì khác. Nay bà Ng yêu cầu ly hôn với ông. Nhưng do con còn nhỏ và ông còn thương yêu vợ con nên ông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Nếu Tòa án cho ông và bà Ng ly hôn thì ông Ph yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Huỳnh Thanh Huyền. Ông không yêu cầu bà Ng cấp dưỡng nuôi con chung.

Trường hợp Tòa án xử giao trẻ Huỳnh Thanh Huyền cho bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng thì ông Ph tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/ tháng cho đến khi trẻ Huyền thành niên.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra ông không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí MAÃU 52/NQ01/2017 Minh tham gia phiên tòa Ph biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng của bà Trần Thị Kim Ng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Veà tố tụng:

Bà Trần Thị Kim Ng khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông Huỳnh Thái Ph. Ông Huỳnh Thái Ph có nơi cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2]. Veà nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 76, do Ủy ban nhân dân xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19/5/2015 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Kim Ng và ông Huỳnh Thái Ph là hôn nhân hợp pháp được qui định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị Kim Ng và ông Huỳnh Thái Ph cùng xác nhận là đời sống chung giữa hai người có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không còn hòa hợp, cả hai đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2018 đến nay và không còn quan tâm chăm sóc, liên hệ với nhau từ lâu. Tại kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân phường 1 quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung “ông Ph và bà Ng đã bất đồng chính kiến như bà Ng khai trong đơn là đúng….ông Huỳnh Thái Ph từ tháng 4 năm 2018 đến nay đã không còn ở tại địa phương”.

Ông Huỳnh Thái Ph không đồng ý ly hôn với bà Trần Thị Kim Ng, ông cho rằng con còn nhỏ và còn thương yêu vợ, tuy nhiên ông lại không sống chung cùng vợ để hàn gắn tình cảm, mà ra sống ly thân với bà Ng từ tháng 3 năm 2018 đến nay, ông cũng không đưa ra một phương án hay một kế hoạch, hành động cụ thể nào để níu kéo, hàn gắn tình cảm, hạnh phúc gia đình.

Qua đó thể hiện tình trạng hôn nhân giữa bà Trần Thị Kim Ng và ông Huỳnh Thái Ph là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc bà Ng yêu cầu ly hôn với MAÃU 52/NQ01/2017 ông Ph là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Kim Ng.

Về con chung: Bà Trần Thị Kim Ng và ông Huỳnh Thái Ph có một con chung tên là Huỳnh Thanh Huyền, sinh ngày 23/01/2016. Bà Ng và ông Ph đều yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ Huyền.

Xét yêu cầu nuôi con chung của các đương sự: Ông Ph và bà Ng đã sống ly thân, từ khi trẻ Huyền sinh ra cho đến nay đều do bà Ng là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Mặt khác căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông, nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”, đồng thời bà Ng có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà Ng, giao trẻ Huỳnh Thanh Huyền cho bà Ng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa, ông Huỳnh Thái Ph xác định, nếu Tòa cho ông ly hôn với bà Ng và giao con chung cho bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng thì ông sẽ cấp dưỡng nuôi trẻ Huỳnh Thanh Huyền mỗi tháng 3.000.000 đồng, cho đến khi trẻ Huyền thành niên. Xét mức cấp dưỡng này là phù hợp với nhu cầu của trẻ Huyền nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Kim Ng và ông Huỳnh Thái Ph cùng xác nhận là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bà Trần Thị Kim Ng phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Ông Huỳnh Thái Ph chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Vì caùc leõ treân,

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 cuûa Luaät hoân nhaân vaø gia ñình naêm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội.

Tuyeân xöû:

1. Veà quan heä hôn nhân: Chaáp nhaän yeâu caàu ly hoân cuûa baø Trần Thị Kim Ng đối với ông Huỳnh Thái Ph.

Bà Trần Thị Kim Ng được ly hôn với ông Huỳnh Thái Ph. Quan hệ hôn MAÃU 52/NQ01/2017 nhân giữa bà Trần Thị Kim Ng và ông Huỳnh Thái Ph chấm dứt cũng như giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 76, do Ủy ban nhân dân xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19/5/2015 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao trẻ Huỳnh Thanh H, sinh ngày: 23/01/2016 cho bà Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ông Huỳnh Thái Ph có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi trẻ Huỳnh Thanh Huyền mỗi tháng 3.000.000 (ba triệu) đồng. Thời hạn cấp dưỡng cho đến khi trẻ Huyền thành niên. Bắt đầu thực hiện việc cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án.

Ông Huỳnh Thái Ph có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này.

3.Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Kim Ng và ông Huỳnh Thái Ph cùng xác nhận là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.Về án phí:

4.1.Bà Trần Thị Kim Ng chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Ng đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0031675 ngày 26/3/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Ng đã nộp đủ án phí.

4.2.Ông Huỳnh Thái Ph chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

5.Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ