vanban.org

Bản án 113/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lý Thị Hoài T đối với anh Lê Bá Khánh T1.

Về con chung: Giao cháu Lê Bá T2, sinh ngày 27/6/2019 và Lê Bá T3, sinh ngày 10/11/2020 cho chị Lý Thị Hoài T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu Lê Bá T2 và Lê Bá T3 đang sống với chị Lý Thị Hoài T. Anh Lê Bá Khánh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Thị Hoài T - Lê Bá Khánh T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lý Thị Hoài T đối với anh Lê Bá Khánh T1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự giải; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 25 – 5 – 2026
Về việc ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Phước

2. Ông Trần Ngọc Ẩn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 142/2026/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lý Thị Hoài T, sinh ngày 15/3/2000 (vắng mặt)

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 09/8/2025.

Địa chỉ: 3, ấp B, phường H, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Lê Bá Khánh T1, sinh ngày 03/02/1999 (vắng mặt)

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 02 năm 2026 và lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Lý Thị Hoài T trình bày: Năm 2017, chị và anh Lê Bá Khánh T1 quen biết và xây dựng hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Cà Mau) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45/01/2019 ngày 17 tháng 4 năm 2019. Thời gian đầu, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc, tuy nhiên quá trình chung sống đến khoảng tháng 10 năm 2025 âm lịch, giữa chị và anh T1 có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm thường xuyên cự cải kéo dài cho đến tháng 12 năm 2025, anh T1 đánh chị và ly thân với chị cho đến nay. Trong thời gian ly thân, chị và anh T1 có liên lạc nhưng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Bá Khánh T1. Về con chung, chị và anh T1 có hai người con chung là cháu Lê Bá T2, sinh ngày 27/6/2019 và Lê Bá T3, sinh ngày 10/11/2020, hiện nay cháu T2 và cháu T3 đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Bá T2 và Lê Bá T3, chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Bá Khánh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cà Mau phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giải quyết cho chị Lý Thị Hoài T ly hôn với anh Lê Bá Khánh T1. Về con chung, giao hai cháu Lê Bá T2, sinh ngày 27/6/2019 và Lê Bá T3, sinh ngày 10/11/2020 cho chị Lý Thị Hoài T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí, chị T phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị Lý Thị Hoài T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Bá Khánh T1. Khi khởi kiện, anh Lê Bá Khánh T1 trú tại ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau). Do vậy, Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp cho người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Anh Lê Bá Khánh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị Lý Thị Hoài T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt chị T và anh T1.

Về hôn nhân: Chị Lý Thị Hoài T và anh Lê Bá Khánh T1 xây dựng hôn nhân năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường H, tỉnh Cà Mau) theo giấy chứng nhận kết hôn số 45/01/2019 ngày 17 tháng 4 năm 2019 nên hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo chị T xác định thời gian đầu, chị T và anh T1 chung sống hạnh phúc, tuy nhiên đến khoảng tháng 10 năm 2025 âm lịch, giữa chị và anh T1 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, chị và anh T1 ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân, chị và anh T1 có liên lạc nhưng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T1 không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, như vậy anh T1 đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân này. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Chị Lý Thị Hoài T và anh Lê Bá Khánh T1 có hai người con chung là cháu Lê Bá T2, sinh ngày 27/6/2019 và Lê Bá T3, sinh ngày 10/11/2020, chị T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu Lê Bá T2 và Lê Bá T3, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Anh T1 đã được Tòa án thông báo ý kiến của chị T nhưng anh T1 không có ý kiến phản đối hay yêu cầu gì đối với chị T. Xét thấy, từ khi ly thân, chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai cháu Lê Bá T2 và Lê Bá T3, các cháu đều được chăm sóc tốt và được tạo điều kiện phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống ổn định và bảo đảm quyền lợi mọi mặt của hai cháu Lê Bá T2 và Lê Bá T3, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cho chị Lý Thị Hoài T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Bá T2 và Lê Bá T3. Anh Lê Bá Khánh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh Lê Bá Khánh T1 không phải chịu án phí.

Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cà Mau là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp cho người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Căn cứ Điều 19, Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lý Thị Hoài T đối với anh Lê Bá Khánh T1. Cho chị Lý Thị Hoài T ly hôn với anh Lê Bá Khánh T1.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Bá T2, sinh ngày 27/6/2019 và Lê Bá T3, sinh ngày 10/11/2020 cho chị Lý Thị Hoài T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu Lê Bá T2 và Lê Bá T3 đang sống với chị Lý Thị Hoài T. Anh Lê Bá Khánh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị Lý Thị Hoài T phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Lý Thị Hoài T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0003393 ngày 01 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí. Anh Lê Bá Khánh T1 không phải chịu án phí.

6. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ