vanban.org

Bản án 113/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Sơn Minh T.

Về hôn nhân: xử cho anh Sơn Minh T được ly hôn với chị Sơn Thị Hồng Đ. Về con chung: giao cháu Sơn Thái P, sinh ngày 21 tháng 5 năm 2020 cho anh Sơn Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Phú thành N. Chị Sơn Thị Hồng Đ không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sơn Minh T - Sơn Thị Hồng Đ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Sơn Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2026/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 4 - 2026
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liên Lâm Anh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Hiệp.

Bà Nguyễn Hồng Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.

Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 284/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2026/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Sơn Minh T, sinh ngày 20/8/1996 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

Địa chỉ: ấp Đ, phường M, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: chị Sơn Thị Hồng Đ, sinh ngày 07/4/2002 “vắng mặt”.

Địa chỉ: ấp P, xã N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 26 tháng 8 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Sơn Minh T trình bày:

- Về hôn nhân: anh Sơn Minh T và chị Sơn Thị Hồng Đ tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 22/7/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường M, thành phố Cần Thơ). Sau khi kết hôn anh T và chị Đ chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Anh T và chị Đ đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2023 cho đến nay, nên anh T yêu cầu ly hôn với chị Đ.

- Về con chung: trong thời gian chung sống anh T và chị Đ có 01 người con chung tên Sơn Thái P, sinh ngày 21 tháng 5 năm 2020. Hiện nay cháu P đang sống chung với anh T. Anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P cho đến khi cháu Phú thành N. Anh T không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: trong thời gian chung sống anh Sơn Minh T và chị Sơn Thị Hồng Đ không có tài sản chung, nên không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: trong thời gian chung sống anh Sơn Minh T và chị Sơn Thị Hồng Đ không có nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh Sơn Minh T vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.

* Bị đơn là chị Sơn Thị Hồng Đ đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ, nên chị Đ đã biết được yêu cầu khởi kiện của anh Sơn Minh T. Chị Đ không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh T.

Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ đã ban hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập chị Sơn Thị Hồng Đ tham gia phiên tòa hai lần hợp lệ, nhưng chị Đ vắng mặt không có lý do và chị Đ cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 8 năm 2025 của nguyên đơn anh Sơn Minh T thì anh T kiện chị Sơn Thị Hồng Đ là bị đơn cư trú tại ấp P, xã N, thành phố Cần Thơ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn anh Sơn Minh T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung với bị đơn chị Sơn Thị Hồng Đ, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Anh Sơn Minh T là nguyên đơn trong vụ án, vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

[1.4] Chị Sơn Thị Hồng Đ là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Đ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: anh Sơn Minh T và chị Sơn Thị Hồng Đ tự nguyện kết hôn khi đã đủ tuổi kết hôn và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, anh T và chị Đ có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường M, thành phố Cần Thơ) theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân của anh T và chị Đ là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh T và chị Đ chung sống hạnh phúc, được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến nên anh T và chị Đ sống không còn hạnh phúc. Khi phát sinh mâu thuẫn thì anh T và chị Đ không cùng nhau khắc phục, tìm biện pháp giải quyết, động viên, an ủi nhau và đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2023. Từ khi sống ly thân cho đến nay anh T và chị Đ không gặp nhau để bàn bạc về việc hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, anh T yêu cầu được ly hôn; chị Đ không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh T.

Xét thấy: hiện nay hôn nhân của anh Sơn Minh T và chị Sơn Thị Hồng Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh T yêu cầu được ly hôn với chị Đ là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho anh T được ly hôn với chị Đ.

[3] Về con chung: trong thời gian chung sống anh Sơn Minh T và chị Sơn Thị Hồng Đ có 01 người con chung tên Sơn Thái P, sinh ngày 21 tháng 5 năm 2020. Từ khi anh T và chị Đ sống ly thân cho đến nay anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu P. Anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P; chị Đ không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh T.

Xét thấy: từ khi anh Sơn Minh T và chị Sơn Thị Hồng Đ sống ly thân cho đến nay anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu P. Hiện nay cháu P đang có cuộc sống ổn định cùng với anh T, chị Đ không có ý kiến phản đối, nên việc anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu P, phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T, xử giao cháu P cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Phú thành N. Do anh T không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con, nên chị Đ không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho chị Đ, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung: trong thời gian chung sống anh Sơn Minh T và chị Sơn Thị Hồng Đ không có tài sản chung, anh T và chị Đ không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: trong thời gian chung sống anh Sơn Minh T và chị Sơn Thị Hồng Đ không có nợ chung, anh T và chị Đ không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc anh Sơn Minh T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng anh T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010853 ngày 27 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ (khu vực 8), như vậy anh T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; chị Sơn Thị Hồng Đ không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo bản án: áp dụng Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Sơn Minh T.

1. Về hôn nhân: xử cho anh Sơn Minh T được ly hôn với chị Sơn Thị Hồng Đ.

2. Về con chung: giao cháu Sơn Thái P, sinh ngày 21 tháng 5 năm 2020 cho anh Sơn Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Phú thành N. Chị Sơn Thị Hồng Đ không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho chị Đ không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: anh Sơn Minh T và chị Sơn Thị Hồng Đ không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: anh Sơn Minh T và chị Sơn Thị Hồng Đ không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm: anh Sơn Minh T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng anh T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010853 ngày 27 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ (khu vực 8), như vậy anh T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; chị Sơn Thị Hồng Đ không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo bản án: nguyên đơn anh Sơn Minh T và bị đơn chị Sơn Thị Hồng Đ có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ