vanban.org

Bản án 113/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thế T phạm Tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Lê Thế T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2024. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thế Tiển - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thế T phạm Tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————
Bản án số: 113/2025/HS-ST
Ngày 28-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Dịu;

2. Ông Trịnh Văn Lực.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly, Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Thế T, sinh năm 1990, tại Bà Rịa – Vũng Tàu; thường trú: tổ A, ấp T, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thế T1, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968, có 3 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền sự: Không

Tiền án:

- Bản án số 348/2017/HSST ngày 22/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Lê Thế T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án số 165/2019/HSST ngày 12/6/2019 của Tòa án thành phố D, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo Lê Thế T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/4/2023 tại Trại giam P.

Nhân thân: Bản án số 49/2009/HSST ngày 07/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt Lê Thế T 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt từ ngày 11/02/2010 tại Trại tạm giam công an tỉnh B. Thi hành án phí ngày 12/11/2009.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/12/2024, có mặt tại phiên tòa

- Bị hại: Ông Đặng Cao Nguyễn H1, sinh năm 1998; địa chỉ: A đường T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đặng Cao Nguyễn H2, sinh năm 2005; A đường T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người chứng kiến: Bùi Trung Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ, ngày 08/12/2024, Lê Thế T mang theo 01 (một) bộ dụng cụ mở khóa gồm: 01 (một) cây khóa chữ T bằng kim loại (loại 8mm); 01 đầu đoản tự chế bằng kim loại; 01 hộp kính màu đen bên trong chứa 04 (bốn) thanh công cụ mở khóa có cán nhựa màu đen có đầu bằng kim loại; 01 (một) thanh kim loại hình chữ Z; 01 (một) thanh trụ vuông có chiều dài khoảng 04 cm và đón xe khách từ huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến thành phố D, tỉnh Bình Dương nhằm mục đích tìm tài sản để trộm. Đến 16 giờ 00 cùng ngày, T đến thành phố D, đến nơi T đi lang thang tìm tài sản để trộm và ngủ ngoài khu vực công viên.

Vào rạng sáng khoảng lúc 04 giờ 10 phút, ngày 10/12/2024, Lê Thế T đến đi đến trước phòng trọ số 03 thuộc dãy trọ số A T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương nhìn thấy 01 xe mô tô Honda Future, biển số 82B2-165.34 dựng trước cửa phòng trọ không có người trông coi. Lê Thế T tiếp cận xe lấy trong túi quần bộ dụng cụ mở khóa và lấy trong hộp dụng cụ ra 01 đoản chữ T, T dùng tay phải cầm đoản chữ T đưa vào ổ khóa xe mô tô định phá ổ khóa thì bị anh Đặng Cao Nguyễn H2 từ trong phòng đi ra phát hiện truy hô, Lê Thế T bỏ chạy ra hướng đường H, chạy được một đoạn khoảng 50 mét thì T vứt đầu mũi đoản chữ T trên đường và tiếp tục chạy khoảng 50 mét nữa thì ném hộp đựng dụng cụ vào chậu cây và chuôi đoản khóa chữ T vào gần chậu cây ven đường vừa lúc bị anh H2 cùng người dân đuổi tới và bắt giữ giao cho Công an phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương với hành vi phạm tội quả tang.

Kết luận định giá tài sản số 238/KLĐG-HĐĐGTS ngày 16/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D, xác định: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Future biển số 82B2-165.34; số máy: JC90E0490419; số khung: RLHJC7650PY154047 có giá trị 24.500.000 (hai mươi bốn triệu năm trăm nghìn) đồng.

+ Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) xe Honda Future biển số 82B2-165.34 (số máy: JC90E0490419; số khung: RLHJC7650PY154047).

- 01 (một) cây khóa chữ T bằng kim loại (loại 8mm); 01 (một) đầu đoản tự chế bằng kim loại; 01 (một) hộp kính màu đen bên trong chứa 04 (bốn) thanh công cụ mở khóa có cán nhựa màu đen có đầu bằng kim loại; 01 (một) thanh kim loại hình chữ Z; 01 (một) thanh trụ vuông có chiều dài khoảng 04 cm.

+ 01 (một) đôi dép nhựa màu đen, có sọc đỏ, có chữ adidas và một nón lưỡi trai màu đen.

Cáo trạng số 125/CT-VKS – DA ngày 10 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thế T về Tội trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thế T mức án từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng từ.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda Future biển số 82B2- 165.34; số máy: JC90E0490419; số khung: RLHJC7650PY154047, thuộc sở hữu của anh Đặng Cao Nguyễn H1, anh H1 giao xe cho em trai là Đặng Cao Nguyễn H2 sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả tài sản trên cho bị hại.

+ Đối với 01 (một) cây khóa chữ T bằng kim loại (loại 8mm), đầu đoản tự chế bằng kim loại, 01 (một) hộp kính màu đen bên trong chứa 04 (bốn) thanh công cụ mở khóa có cán nhựa màu đen có đầu bằng kim loại; 01 (một) thanh kim loại hình chữ Z; 01 (một) thanh trụ vuông có chiều dài 04 cm là các dụng cụ bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với đôi dép nhựa màu đen, có sọc đỏ, có chữ adidas và một nón lưỡi trai màu đen, đây là tài sản cá nhân của Lê Thế T, tại phiên tòa bị cáo từ chối nhận lại các tài sản trên, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Về trách nhiệm dân sự: Ông Đặng Cao Nguyễn H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên, không trình bày lời bào chữa cho hành vi phạm tội, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện vào lúc 04 giờ 10 phút, ngày 10/12/2024, tại phòng trọ số 03 thuộc dãy trọ số A T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau và phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định vào lúc 04 giờ 10 phút ngày 10/12/2024, Lê Thế T đã cố ý lợi dụng sự mất cảnh giác của bị hại lén lút tiếp cận thực hiện hành vi tra đoản chữ T vào ổ khóa xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Future biển số 82B2- 165.34 nhằm bẻ khóa chiếm đoạt tài sản của bị hại trị giá: 24.5000.000 đồng nhưng không thực hiện được hành vi đến cùng do anh H2 phát hiện tri hô quần chúng bắt bị cáo nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thế T về tội “trộm cắp tài sản”, phạm tội chưa đạt, bị cáo đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 57 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 125/CT-VKS- DA ngày 10 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, phạm tội chưa đạt là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Hình phạt chính: Xét bị cáo xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo đã có tiền án, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D xác định: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Future biển số 82B2-165.34; số máy: JC90E0490419; số khung: RLHJC7650PY154047 là tài sản của Đặng Cao Nguyễn H1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại tài sản cho bị hại là có căn cứ.

- Đối với 01 (một) cây khóa chữ T bằng kim loại (loại 8mm), đầu đoản tự chế bằng kim loại, 01 (một) hộp kính màu đen bên trong chứa 04 (bốn) thanh công cụ mở khóa có cán nhựa màu đen có đầu bằng kim loại; 01 (một) thanh kim loại hình chữ Z; 01 (một) thanh trụ vuông có chiều dài 04 cm đây là các dụng cụ bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thủ tiêu hủy.

- Đối với đôi dép nhựa màu đen, có sọc đỏ, có chữ adidas và một nón lưỡi trai màu đen, đây là tài sản cá nhân của Lê Thế T, T không muốn nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 15, Điều 57 điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Các Điều 331, 333, 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thế T phạm Tội trộm cắp tài sản.

- Xử phạt bị cáo Lê Thế T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) cây khóa chữ T bằng kim loại (loại 8mm), đầu đoản tự chế bằng kim loại, 01 (một) hộp kính màu đen bên trong chứa 04 (bốn) thanh công cụ mở khóa có cán nhựa màu đen có đầu bằng kim loại; 01 thanh kim loại hình chữ Z, 01 (một) thanh trụ vuông có chiều dài 04 cm là công cụ Tiển sử dụng vào mục đích phạm tội.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 đôi dép nhựa màu đen, có sọc đỏ, có chữ adidas và một nón lưỡi trai màu đen là tài sản cá nhân của Lê Thế T, T không nhận lại và không có giá trị sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 03 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lê Thế T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ