vanban.org

Bản án 113/2025/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 24/04/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/04/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đinh Ngọc C, Trương Công S giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam về hình phạt đối với các bị cáo.

Xử phạt Bị cáo Đinh Ngọc C 09 (Chín) tháng tù, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Xử phạt Bị cáo Trương Công S 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Ngọc C - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đinh Ngọc C, Trương Công S giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam về hình phạt đối với các bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/HS-PT
Ngày: 24/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tân Các Thẩm phán:Ông Trần Thế Cẩm Bà Lê Thị Anh Đào

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Văn Trung Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 44/2025/TLPT-HS, ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Đinh Ngọc C cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Đinh Ngọc C, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2001; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: lao động phổ thông; con ông Đinh Ngọc T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; vợ Nguyễn Hoàng V, sinh năm 2001, có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 16/12/2016, bị Công an thị trấn T, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau”, hình thức phạt Cảnh cáo.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Trương Công S, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1996; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ F, thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lao động phổ thông; con ông Trương Công M, sinh năm 1973 và bà Hà Thị Ú, sinh năm 1975; bản thân bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Ngoài ra còn có 3 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

-Người bào chữa cho bị cáo Đinh Ngọc C: Luật sư Nguyễn Xuân B – Văn phòng L1. Địa chỉ: C T, phường T, Tp ., tỉnh Quảng Nam (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 03 tháng 02 năm 2020 tại nhà ông Đinh Ngọc T ở thôn A, xã T, huyện T, Đinh Ngọc C và vợ là Lưu Thị Thanh T1, tên gọi khác là R (chưa đăng ký kết hôn) xảy ra cãi nhau rồi dẫn đến xô xát. Lưu Thị Thanh T1 gọi điện cho chị ruột là Lưu Thị Minh T2 (tên gọi khác là Đ) thông báo T1 bị C đánh, nhờ gia đình vào đón Lưu Thị Thanh T1 và con Lưu Văn K về. Nghe vậy, Lưu Thị Minh T2 gọi thuê xe ô tô 04 chỗ nhãn hiệu HYUNDAI ACCENT, biển kiểm soát 92A-148.04 do Đàm Văn M1 điều khiển chở Lê Thanh H1 (là chồng của T2) và Lưu Văn T3 (là cha đẻ T2) đi lên T đón T1 về. Trên đường đi, T2 dùng điện thoại di động gọi cho Lưu Văn H2 (là anh của T2) thông báo lại sự việc và yêu cầu cùng đi lên T đón T1 về. Lưu Văn H2 dùng điện thoại gọi cho Trần Ngọc C1 (tên gọi khác là C2) và Hứa Công V1 thông báo em gái H2 bị chồng đánh và rủ V1 và C1 lên T đưa em gái và cháu về. Sau khi nhận lời H2, V1 chạy đến nhà Nguyễn Lê V2 rủ V2 và gọi điện rủ thêm Nguyễn Hữu A (tên gọi khác là B1) và Trương Công S (tên gọi khác là B2) cùng đi. C1 nhận lời đi T cùng H2 lúc đang nhậu cùng Nguyễn Quang Lâm T4 (tên gọi khác là Cu E) nên C1 rủ T4 cùng đi, T4 đồng ý. Tất cả tập trung tại nhà trọ của Nguyễn Lê V2 ở I N, H, quận L, Thành phố Đà Nẵng, tại đây V1 gọi xe ô tô G 07 chổ nhãn hiệu KIA RONDO, biển kiểm soát 43A-432.97 do Hứa Công H3 điều khiển. Trước khi đi H2 chuẩn bị con dao dài 85cm, cán dao bằng gỗ hình trụ tròn, dài 54,5cm, đường kính trung bình 03cm, lưỡi dao bằng kim loại, dạng hình chữ nhật, dài 30,5cm, rộng trung bình 3,5cm, phần sống lưỡi dao dày 0,3cm và 04 bình xịt hơi cay nhãn hiệu NATO, võ bằng kim loại, thể tích 110ml và 01 bình xịt hơi cay cùng loại nhưng thể tích 90ml, trong đó H2 đưa cho V1 01 bình xịt, còn V2 vào phòng trọ lấy 01 bình xịt hơi cay mang theo. Khi đi đến nhà lưu niệm Nguyễn Văn T5, ở thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam thì gặp xe ô tô chở T2, H1 và ông T3 rồi 02 xe cùng đi, xe 04 chổ đi phía trước, xe 07 chổ đi sau đến nhà ông Đinh Ngọc T (cha của C) khoảng 00 giờ ngày 04 tháng 02 năm 2020, lúc này Lưu Thị Thanh T1 bồng Lưu Văn K đi về cùng gia đình thì Đinh Ngọc C, Đinh Ngọc T và Nguyễn Thị H (mẹ của C) không đồng ý nên Đinh Ngọc C, Đinh Ngọc T và Nguyễn Thị H xảy ra giằng co, xô xát với Lưu Thị Minh T2, ông Lưu Văn T3 và những người đi cùng, Hứa Công V1 sử dụng bình hơi cay xịt vào người bên phía gia đình ông T để phía ông T không cản trở việc bồng cháu K và đưa T1 lên xe về. Sau đó Lưu Thị Thanh T1 bồng được Lưu Văn K lên xe ô tô biển số 92A-148.04 nên những người đến đón Lưu Thị Thanh T1 cũng lên hai xe ô tô đi về. Khi đó Đinh Ngọc C cầm dao, Đinh Ngọc T cầm cây, Nguyễn Thị H đuổi theo dùng tấm bạc nhựa, đá, cây gỗ lăn ra đường cản không cho hai xe ô tô chạy. Lúc này, Lưu Văn T3 xuống xe để dọn các chướng ngại vật để cho các xe ô tô chạy thì Đinh Ngọc C, Đinh Ngọc T xông về hướng Lưu Văn T3. Lưu Văn H2 thấy vậy sợ Lưu Văn T3 bị đánh nên xuống xe cầm một con dao xông về hướng Đinh Ngọc C, Đinh Ngọc T thì bị Đinh Ngọc T cầm cây đánh trúng vào đầu Lưu Văn H2 gây thương tích. Lưu Văn H2 cầm con dao tay trái chém loạn xã nhiều cái về hướng người Đinh Ngọc T gây ra nhiều vết thương chảy máu. Trong lúc này, Trần Ngọc C1, Nguyễn Hữu A, Hứa Công V1, Trương Công S, Nguyễn Lê V2, Nguyễn Quang Lâm T4 cũng xuống xe chạy đến tham gia đánh nhau. Trương Công S xông vào giật lấy đoạn cây mà Đinh Ngọc T đang cầm làm Đinh Ngọc T ngã xuống đường bê tông, S cùng Hứa Công V1 dùng tay đánh vào người Đinh Ngọc T 02 cái, V1 tiếp tục nhặt 02 cục đá ném về hướng Đinh Ngọc C, Đinh Ngọc T nhưng 01 cục không trúng ai, còn 01 cục trúng vào người Đinh Ngọc T; Nguyễn Lê V2 dùng chân đá vào người Đinh Ngọc T 02 cái làm Đinh Ngọc T bị thương tích. Riêng Trần Ngọc C1, Nguyễn Hữu A xảy ra xô xát với Đinh Ngọc C hậu quả làm Trần Ngọc C1, Nguyễn Hữu A bị thương tích, còn Nguyễn Quang L Tới không tham gia xô xát với ai. Sau khi xảy ra xô xát, đánh nhau, Lưu Văn H2 và những người đi cùng H2 lên xe ô tô ngồi để chạy đi, khi đó Đinh Ngọc C cầm dao chặn đầu xe ô tô biển kiểm soát 92A-148.04 chạy trước đồng thời dùng dao chém nhiều cái vào ca bô ô tô biển kiểm soát 92A-148.04 gây hư hỏng, thấy vậy Lưu Văn H2 và một số người đi cùng xuống xe rượt đuổi Đinh Ngọc C thì Đinh Ngọc C chạy lên bờ đất bên phải theo hướng đi của các xe ô tô liên tục nhặt đá ném nhiều cái nhằm vào các xe ô tô, dẫn đến hậu quả xe ô tô biển kiểm soát 92A-148.04, xe ô tô biển kiểm soát 43A-432.97 bị hư hỏng nhiều bộ phận. Bị ném đá, Lưu Văn H2 và những người đi cùng lên các xe ô tô ngồi, sau đó lực lượng Công an đến làm việc.

Tại biên bản định giá và Kết luận giá tài sản trong tố tụng hình sự số 07/2020 ngày 08 tháng 02 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: Tổng giá trị thay thế, sửa chữa các bộ phận hư hỏng của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển kiểm soát 92A-148.04 là 17.700.000 đồng; tổng giá trị thay thế, sửa chữa các bộ phận hư hỏng của xe ô tô nhãn hiệu Kia Rondo, biển kiểm soát 43A-432.97 là 1.000.000 đồng.

Tại Bản giám định thương tích số 51/GĐTT.20 ngày 14 tháng 02 năm 2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận: Đinh Ngọc T bị thương tích với tỷ lệ 12% (mười hai phần trăm), cụ thể:

- Sát trên gốc vành tai phải có vết rách da đã khâu dài 1,4cm, rộng 0,2cm. Vết thương do vật sắc cạnh gây nên. Hướng từ phải sang trái. Tỷ lệ thương tích 01%.

- Mặt trước trên vành tai phải có vết rách da đã khâu dài 1cm, rộng 0,2cm. Vết thương do vật sắc cạnh gây nên. Hướng từ phải sang trái. Tỷ lệ thương tích 01%.

- Môi trên bên trái, tương ứng răng R2.1, R2.2 có vết rách dập niêm mạc môi đã khâu dài 1,5cm, rộng 0,3cm. Gãy mất răng R2.1, hố chân răng còn viêm đỏ, lung lay răng R1.2. Vết thương do vật tày tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau. Tỷ lệ thương tích 03%.

- Vùng mặt, cách khóe miệng bên trái 1,5cm có vết rách da đã khâu, dài 1,5cm, rộng 0,2cm. Vết thương do vật sắc cạnh gây nên. Hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải. Tỷ lệ thương tích 01%.

- Bệnh nhân van đau vùng ngực phía trước, không thấy xát da, bầm tụ máu dưới da, ấn đau nhẹ, đau chủ yếu đau da và cơ. Sang chấn này do vật tày không có cạnh tác động gây nên. Tình trạng đau da và cơ sau thời gian điều trị sẽ khỏi nên không xếp tỷ lệ thương tích.

- Gan bàn tay phải, trên nền mô cái có vết rách da đã khâu, dài 3,5cm, rộng 0,2cm. Vết thương do vật sắc cạnh gây nên. Hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Tỷ lệ thương tích 02%.

- Gan bàn tay phải, trên nền xương bàn II đến đốt 1 ngón II có vết rách da và cơ đã khâu dài 5cm, rộng 0,2cm. Vết thương do vật sắc cạnh gây nên. Hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Tỷ lệ thương tích 02%.

- Gan bàn tay phải, trên nền xương bàn IV đến kẻ ngón III, IV có vết rách da đã khâu dài 4cm, rộng 0,2cm. Vận động gấp, duỗi các ngón bàn tay phải được nhưng còn đau. Vết thương do vật sắc cạnh gây nên. Hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên. Tỷ lệ thương tích 01%.

- Trước ngoài gối trái có vết xát da đã đóng vảy dài 2,5cm, rộng 0,3cm. Vết thương do vật tày tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải. Tỷ lệ thương tích 01%.

Ngày 29 tháng 5 năm 2020, ông Đinh Ngọc T có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Lưu Văn H2 và những người đã gây ra thương tích cho ông.

Đối với Lưu Văn H2, Nguyễn Hữu A, Trần Ngọc C1 bị Đinh Ngọc T, Đinh Ngọc C dùng dao, cây, đá, đánh gây thương tích. Tuy nhiên ngày 25, 26 tháng 5 năm 2020, Lưu Văn H2, Nguyễn Hữu A, Trần Ngọc C1 đã có đơn từ chối giám định thương tích và đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Đinh Ngọc T, Đinh Ngọc C.

Ngày 18 tháng 3 năm 2022, Trung tâm pháp y tỉnh Q có Công văn số 47/GĐPY về việc nhận định thương tích, nhận định tỷ lệ thương tích của Lưu Văn H2 là 5% (năm phần trăm), của Trần Ngọc C1 là 3% (ba phần trăm), của Nguyễn Hữu A là 02% (ba phần trăm).

Đối với Đinh Ngọc C, khi đánh nhau thì bị người khác ném vật gì đó vào vùng sau vai trái nhưng không gây ra thương tích gì.

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Đinh Ngọc C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; Lưu Văn H2, Hứa Công V1, Trương Công S, Nguyễn Lê V2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Đinh Ngọc C 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Trương Công S 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Trương Công S có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo; Đinh Ngọc C có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đinh Ngọc C về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Trương Công S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Đinh Ngọc C 09 (Chín) tháng tù, Trương Công S 06 (Sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Trương Công S không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới; bị cáo Đinh Ngọc C có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình và giấy khai sinh của con sinh ngày 13/10/2023 nhưng với mức hình phạt như trên đối với bị cáo C là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Đinh Ngọc C với luận cứ: Hình phạt áp dụng đối với bị cáo Đinh Ngọc C 09 tháng tù là quá nghiêm khắc vì nguyên nhân phạm tội xuất phát từ việc muốn giữ con mà bị phía bị hại tấn công trước gây bức xúc dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Gia đình bị cáo hiện nay rất khó khăn, bản thân bị cáo là lao động chính nuôi con nhỏ mới sinh năm 2023. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Đinh Ngọc C, Trương Công S có đơn kháng cáo về phần hình phạt. Xét đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của các bị cáo là hợp pháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Đinh Ngọc C, Trương Công S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với khai báo của bị hại, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định thương tích và các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi dùng dao, tay chân đấm đá, dùng đá ném gây thương tích cho bị hại Đinh Ngọc T với tỷ lệ 12% của các bị cáo Lưu Văn H2, Hứa Công V1, Nguyễn Lê Văn V2 và Trương Công S nên bị Toà án cấp sơ thẩm kết án về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến đểm k khoản 1 Điều này” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Hành vi dùng dao chém, ném đá gây hư hỏng hai xe ô tô của các bị hại có giá trị là 18.700.000 đồng của bị cáo Đinh Ngọc C nên bị Toà án cấp sơ thẩm kết án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của các bị cáo thì thấy:

Đối với bị cáo Đinh Ngọc C, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và nhân thân để làm căn cứ xử phạt bị cáo C 09 (Chín) tháng tù là tương xứng với hành vi và hậu quả của tội phạm đã gây ra. Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đinh Ngọc C có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình và giấy khai sinh của con sinh ngày 13/10/2023 nhưng với mức hình phạt như trên đối với bị cáo C là phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Đối với bị cáo Trương Công S, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân, vai trò của bị cáo trong vụ án để làm căn cứ xử phạt bị cáo S 06 (Sáu) tháng tù là có căn cứ pháp luật và không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Xét thấy, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Đinh Ngọc C, Trương Công S phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đinh Ngọc C, Trương Công S giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam về hình phạt đối với các bị cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Bị cáo Đinh Ngọc C 09 (Chín) tháng tù, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Bị cáo Trương Công S 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2. Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Đinh Ngọc C, Trương Công S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 24/4/2025.

Cỡ chữ