vanban.org

Bản án 113/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Vũ Văn N.

Về con chung: Giao cháu Vũ Nguyễn Phương L, sinh ngày 27/01/2021 cho bà Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Vũ Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Vũ Văn N được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Nguyễn Thị H yêu cầu xin ly hôn c với ông Vũ Văn N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Vũ Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09/5/2025
V/v :“Tranh chấp ly hôn, nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Ngọc

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vương Thị Khánh Loan

2. Bà Thiều Thị Phi Loan

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên , tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Tùng Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2156/2024/TLST- HNGĐ, ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 165/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18/4/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: A, Quách Thị T, ấp B, xã TP, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Ông Vũ Văn N, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Tổ C, khu phố VD, phường PT, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tiến hành tố tụng bà Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Vũ Văn N tự nguyên chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và đã được UBND phường PT, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 67/2020 ngày 25/3/2020. Hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và hai ông bà chung sống với nhau hạnh phúc, hòa thuận được một thời gian thì bắt đâu phát sinh nhiêu mâu thuẫn và bất đồng quan điểm. Hai vợ chồng không còn dành tình cảm cho nhau, không tìm được tiếng nói chung, hạnh phúc gia đình không còn tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ năm 2023 đến nay vợ chồng ông bà đã sống ly thân. Nay bà làm đơn này kính mong Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xem xét giải quyết cho bà được ly hôn với ông Vũ Văn N để chấm dứt tình trạng hôn nhân không hạnh phúc như hiện nay.

- Về con chung: Có 01 (một) con chung là cháu Vũ Nguyễn Phương L, sinh ngày 27/01/2021. Khi ly hôn, Bà H xin được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Tạm thời không yêu cầu ông Vũ Văn N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà cam kết hai vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Bà H xin tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Vũ Văn N nhưng ông Vũ Văn N không gửi cho Tòa án ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ. Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo, giấy triệu tập mời ông Vũ Văn N đến Tòa án để lấy lời khai đối chất; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Vũ Văn N không đến Tòa án làm việc.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng, bảo đảm sự vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án. Về nội dung tranh chấp: Cuộc sống hôn nhân của bà Nguyễn Thị H và Vũ Văn N không có hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai. Do mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H. Bà Nguyễn Thị H khai có 01 con chung là cháu Vũ Nguyễn Phương L, sinh ngày 27/01/2021. Ly hôn, bà Nguyễn Thị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Linh. Tạm thời bà H không yêu cầu ông Vũ Văn N phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Vũ Văn N cũng không có ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Vũ Nguyễn Phương L, sinh ngày 27/01/2021 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và tạm thời ông Vũ Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Nguyễn Thị H khai tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Vũ Văn N cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị H và ông Vũ Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Ông Vũ Văn N hiện đang sinh sống tại thành phố Biên Hòa nên đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Vũ Văn N “Thông báo thụ lý vụ án”,“Giấy triệu tập”, “Thông báo thu thập được chứng cứ”,“Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải” nhưng ông Vũ Văn N vẫn không đến Tòa án làm việc. Do ông Vũ Văn N đã được thông báo nhiều lần nhưng vẫn không đến tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản ghi nhận việc không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải được, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa do vắng mặt ông Vũ Văn N cũng đã được tiến hành tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, ông Vũ Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Vũ Văn N vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Vũ Văn N theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Về nội dung tranh chấp: Bà Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn với ông Vũ Văn N. Về con chung bà Nguyễn Thị H khai có 01 con chung là cháu Vũ Nguyễn Phương L, sinh ngày 27/01/2021. Ly hôn bà Nguyễn Thị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và tạm thời không yêu cầu ông Vũ Văn N cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung tự thoả thuận và bà Nguyễn Thị H cam kết hai vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các nội dung này đã được Tòa án ghi rõ trong các Thông báo mà ông Vũ Văn N đã được niêm yết hợp lệ nhưng ông Vũ Văn N có ý kiến phản đối, không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai, lời trình bày của bà Nguyễn Thị H và kết quả xác minh tại địa phương thì thấy ông Vũ Văn N và bà Nguyễn Thị H cuộc sống chung không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Ông Vũ Văn N và bà Nguyễn Thị H đã sống riêng. Đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trên thực tế, bà Nguyễn Thị H và ông Vũ Văn N không ai còn quan tâm đến ai. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải cho ông Vũ Văn N để tiến hành hòa giải nhưng ông Vũ Văn N không đến, cho thấy ông Vũ Văn N không có thiện chí đoàn tụ với bà Nguyễn Thị H. Do vậy yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc xin ly hôn với ông Vũ Văn N là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị H khai có 01 con chung là cháu Vũ Nguyễn Phương L, sinh ngày 27/01/2021. Ly hôn bà Nguyễn Thị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Ông Vũ Văn N không có ý kiến về con chung nên Hội đồng xét xử giao cháu Vũ Nguyễn Phương L, sinh ngày 27/01/2021 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Do bà Nguyễn Thị H không yêu cầu nên ông Vũ Văn N tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H khai tự thỏa thuận và ông Vũ Văn N không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung của bà Nguyễn Thị H và ông Vũ Văn N trong vụ án này.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H khai không có nợ chung và ông Vũ Văn N không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 119 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Vũ Văn N.

2. Về con chung: Giao cháu Vũ Nguyễn Phương L, sinh ngày 27/01/2021 cho bà Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Vũ Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Vũ Văn N được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H khai tự thoả thuận và ông Vũ Văn N không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung trong vụ án này.

4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H khai không có và ông Vũ Văn N không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về nợ chung của bà Nguyễn Thị H và ông Vũ Văn N trong vụ án này.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị H đã nộp theo biên lai thu số: 0000780 ngày 25/09/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí.

Bà Nguyễn Thị H và ông Vũ Văn N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ