vanban.org

Bản án 113/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Văn L. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị X được miễn nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn do mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 08 – 9 – 2025
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Kiệt

Các vị Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Sol

Ông Nguyễn Tấn Lộc

-Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau.

Ngày 08 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 267/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X - Sinh năm 1955 (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L - Sinh năm 1952 (vắng mặt).

Cùng trú: Ấp S, xã L, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 19.5.2025 và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị X (Nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông L sống chung như vợ chồng từ năm 1980 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 1995 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cự cãi và sống ly thân đến nay. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông L.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn L có 03 người con chung tên Ngô Thị N, sinh năm 1981, Ngô Thị T, sinh năm 1982, Ngô Văn B, sinh năm 1989. Hiện nay các con đã trưởng thành, sức khỏe bình thường có thể tự lao động nuôi sống bản thân được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị X xác định trong thời gian chung sống không có tài sản chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị X xác định trong thời gian chung sống bà và ông L không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng ông bà nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ông Nguyễn Văn L, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của bà X nhưng ông L không có ý kiến. Tòa án thông báo để ông L tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng ông L vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa ông, bà được.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Văn L tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông L vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hôn nhân: Bà X và ông L sống chung như vợ chồng vào năm 1980 không có đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà X và ông L được quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bà X vẫn giữ quan điểm xin được ly hôn với ông L, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, đã có thời gian sống ly thân từ năm 1995 cho đến nay. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử ông L không có ý kiến bằng văn bản hay trực tiếp tranh tụng tại Tòa án để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của bà X, cũng như tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho anh. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa bà X và ông L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của bà X, cho bà X được ly hôn với ông L là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn L có 03 người con chung tên Ngô Thị N, sinh năm 1981, Ngô Thị T, sinh năm 1982, Ngô Văn B, sinh năm 1989. Hiện nay các con đã trưởng thành, sức khỏe bình thường có thể tự lao động nuôi sống bản thân được, bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị X xác định trong thời gian chung sống bà và ông L không có tài sản chung, bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị X xác định trong thời gian chung sống không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng ông bà, bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Ông L vắng mặt không có ý kiến về tài sản và nợ chung nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị X là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 244, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 9, 53, 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị X được miễn nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bà Nguyễn Thị X có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ