- Tranh chấp gì? Tranh chấp cá nhân — án dân sự — "Hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Việt S.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 357 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2025/DS-ST Ngày 12 – 5 – 2025 V/v tranh chấp HĐMB tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Giang
2. Ông Vũ Minh Hoàng
- Thư ký phiên toà: Ông Lữ Tấn Thiên – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 12 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 120/2025/TLST-DS, ngày 04 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Việt S, sinh năm 1977; Địa chỉ: khóm 1, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1962 và bà Hồ Thị T1; Địa chỉ: ấp Cái Đôi N, xã Nguyễn Việt K, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, anh Nguyễn Việt S (nguyên đơn) trình bày:
Vào ngày 14/4/2021, ông Hồ Văn T cùng vợ là bà Hồ Thị T1 có mua một điện thoại ViVo Y12s và còn nợ anh số tiền 4.380.000 đồng. Đồng thời, vợ chồng ông T có ký giấy nhận nợ cam kết đến ngày 11/5/2021 sẽ thanh toán số tiền trên. Đến ngày 05/6/2021, vợ chồng ông T trả được số tiền 730.000 đồng thì ngưng cho đến nay. Mặc dù, anh đã đòi nhiều lần nhưng vợ chồng ông T vẫn không trả. Hiện vợ chồng ông T còn nợ anh số tiền 3.650.000 đồng (ba triệu sáu trăm năm chục nghìn đồng) nên anh yêu cầu vợ chồng ông T trả một lần hết số tiền nợ trên cùng lãi suất chậm trả tính từ ngày 05/6/2021 cho đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 10%/năm. Ngoài ra, anh S không yêu cầu thêm khoản nào khác.
Đối với ông Hồ Văn T và bà Hồ Thị T1 (bị đơn), Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cùng các văn bản tố tụng và triệu tập nhiều lần nhưng ông T, bà T1 không đến Toà cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Việt S (nguyên đơn).
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lý do nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử.
Tranh chấp giữa nguyên và bị đơn được xác định là tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản, cụ thể là tranh chấp nghĩa vụ trả tiền mua điện thoại di động hiệu ViVo Y12S. Tuy việc mua bán chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không lập hợp đồng mua bán nhưng thực tế bị đơn đã nhận tài sản, trả một phần tiền khi mua tài sản cho nguyên đơn và cùng ký tên vào biên nhận ngày 11/4/2021 còn nợ nguyên đơn số tiền 4.380.000 đồng là sự thật nên không phải chứng minh.
Mặc dù, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ, song vẫn vắng mặt không rõ lý do và trong thời gian giải quyết vụ án, bị đơn không đến Toà, không gửi văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cũng như lời trình bày của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh là tự từ bỏ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nên lời trình bày của nguyên đơn về việc bị đơn còn nợ và yêu cầu trả số tiền còn nợ là 3.650.000 đồng (ba triệu sáu trăm năm chục nghìn đồng) là có căn cứ, được chấp nhận.
Xét yêu cầu tính lãi, Hội đồng xét xử nhận thấy tại biên nhận viết ngày 11/4/2021 thể hiện việc bị đơn cam kết trả số tiền nợ vào ngày 11/5/2021 nhưng đến ngày 05/6/2021, bị đơn mới thực hiện nghĩa vụ trả tiền nhưng trả không đúng như cam kết tại biên nhận nêu trên. Tuy nhiên, nguyên đơn cũng chấp nhận việc trả tiền này nên thời gian bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ được tính từ ngày 05/6/2021 là phù hợp. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc tính lãi chậm trả từ ngày 05/6/2021 đến ngày xét sử sơ thẩm (ngày 12/5/2021) là 03 năm 11 tháng 07 ngày theo mức lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự nên chấp nhận, cụ thể số tiền lãi của nguyên đơn được tính như sau: (03 năm 11 tháng 07 ngày x 3.650.000 đồng) x 10%/năm = 1.436.600 đồng.
Với nhận định tại mục [3] và [4], tổng số tiền vốn và lãi nguyên đơn được chấp nhận là 5.086.600 đồng (năm triệu không trăm tám mươi sáu nghìn sáu trăm đồng).
Về thời gian thanh toán, nguyên đơn có yêu cầu bị đơn trả một lần hết số tiền nợ trên, Hội đồng xét xử thấy rằng việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bị đơn phải chịu. Nguyên đơn không phải chịu, số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp được trả lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 357, 430, 440, 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các Điều 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Việt S.
Buộc ông Hồ Văn T, bà Hồ Thị T1 trả cho anh Nguyễn Việt S các khoản với tổng số tiền là 5.086.600 đồng (năm triệu không trăm tám mươi sáu nghìn sáu trăm đồng).
Kể từ ngày anh Nguyễn Việt S có đơn yêu cầu thi hành án, ông Hồ Văn T, bà Hồ Thị T1 không tự nguyện thi hành xong thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Hồ Văn T, bà Hồ Thị T1 phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng, chưa nộp).
Anh Nguyễn Việt S không phải chịu. Ngày 03/3/2025, anh S đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003876 được trả lại toàn bộ cho anh S.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H.Phú Tân; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lâm Hoài Ân |