vanban.org

Bản án 113/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cái Răng, TP. Cần Thơ Tuyên án 24/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Văn V phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 5 (năm) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 29/02/2024. Ghi nhận việc: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn V phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. CÁI RĂNG
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST
Ngày 24/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Mỹ Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Công Dung

2. Ông Nguyễn Thanh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân quận Cái Răng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại tại điểm cầu trung tâm - Tòa án nhân dân quận Cái Răng và điểm cầu thành phần - Nhà tạm giữ Công an quận Cái Răng, Tòa án nhân dân quận Cái Răng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý thụ lý số 112/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HS ngày 09/12/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn V, sinh năm 1984 tại Cần Thơ; Nơi cư trú: số 70/50/21B, đường C m t T, phường C K, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Hương H; chưa có vợ con; tiền án: 01 lần. Ngày 16/10/2018, bị Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ tuyên phạt 06 năm tù giam về tội Cướp giật tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 13/10/2022; tiền sự: không; nhân thân: 02 lần bị kết án đã xóa án tích, cụ thể: Ngày 30/7/2004, bị Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tuyên phạt 04 năm tù giam về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/9/2007; Và ngày 16/6/2008, bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tuyên phạt 06 năm tù giam về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 07/12/2012; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/02/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1/ Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1978

2/ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976

Cùng địa chỉ: ấp P H, xã Đ P, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Có đơn đề ngày 12/12/2024 xin xét xử vắng mặt. (SĐT 0907560087)

* Người liên quan: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1988

Địa chỉ: Tổ 10, H P, khu vực B T, phường L H, quận BÌnh Thủy, thành phố Cần Thơ. Có đơn đề ngày 13/12/2024 xin xét xử vắng mặt. (SĐT 0793 3266789)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/02/2024, Nguyễn Văn V một mình điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ biển kiểm soát 65E1 - 454.23 đi từ phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ đến địa bàn quận Cái Răng. Khi vừa qua cầu Hưng Lợi thuộc địa bàn quận Cái Răng, V phát hiện anh Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển kiểm soát 95G1-077.22 chở theo vợ là chị Nguyễn Thị Kiều L đang lưu thông cùng chiều phía trước có đem theo túi xách để ở giữa nên nảy sinh ý định cướp giật tài sản. Lúc này, V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65E1 - 454.23 bám theo đến đoạn vừa xuống dốc cầu Cái Sâu thuộc khu vực Thạnh Thắng, phường Phú Thứ thì V điều khiển xe mô tô áp sát bên phải chị Lang rồi dùng tay trái giật lấy túi xách và tăng ga bỏ chạy về hướng về cảng Cái Cui. Khi V đến khu dân cư Thiên Lộc sau đó V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65E1 - 454.23 chạy ngược về hướng khu dân cư Nam Long thuộc KDC Nam Long thuộc phường Hưng Thạnh và đi vào nền đất trống gần cầu Nam Long kiểm tra bên trong túi xách có: 01 ví da có 1.900.000 đồng tiền Việt Nam; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus bị nứt màn hình và bể kính sau; 01 thẻ căn cước công dân và 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Thị Kiều L; 01 cây son; 01 hộp kem; 01 hộp phấn. V lấy điện thoại di động và tiền bỏ vào túi quần còn túi xách và các đồ vật còn lại vứt vào bụi chuối gần đó. Trên đường về, do sợ bị định vị điện thoại nên khi qua cầu Cái Da thuộc quận Cái Răng V vứt bỏ điện thoại xuống sông rồi điều khiển xe đi về, số tiền 1.900.000 đồng thì sử dụng tiêu xài cá nhân còn lại 380.000 đồng.

Sau đó, chị Nguyễn Thị Kiều L đến Công an phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ để trình báo. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh và xác định đối tượng là Nguyễn Văn V nên đã tiến hành mời làm việc và giải quyết theo quy định (BL 01).

Vật chứng thu giữ: 01 túi xách tay có hoa văn xám, trắng, đen; 01 ví da màu nâu; 01 cây son; 01 hộp kem; 01 hộp phấn; 01 thẻ căn cước công dân và 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Thị Kiều L; tiền Việt Nam 380.000 đồng; 01 mũ bảo màu đen giữa có đường viền màu trắng vàng (đã qua sử dụng); 01 áo thun màu xanh phía trước có in chữ KENDA (đã qua sử dụng); 01 quần vải màu vàng (đã qua sử dụng); 01 đôi dép mủ quai ngang màu đen (đã qua sử dụng); 01 xe môtô biển kiểm soát 65E1-454.23 (BL 34-62)

Kết luận định giá tài sản số 36/TCKH-HĐĐG ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xác định: 01 túi xách tay có hoa văn xám, trắng, đen không rõ nhãn hiệu (đã qua sử dụng, đã thu hồi); không xác định được chất lượng, chưa đủ cơ sở định giá; 01 ví da màu nâu (không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, đã thu hồi); không xác định được chất lượng, chưa đủ cơ sở định giá; 01 cây son (không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, đã thu hồi); không xác định được chất lượng, chưa đủ cơ sở định giá; 01 hộp kem (không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, đã thu hồi); không xác định được chất lượng, chưa đủ cơ sở định giá; 01 hộp phấn (không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, đã thu hồi); không xác định được chất lượng, chưa đủ cơ sở định giá; 01 điện thoại di động Iphone 8 màu hồng, 256Bb (đã qua sử dụng, không thu hồi được); không xác định được chất lượng, chưa đủ cơ sở định giá (BL 31-33).

Như vậy, xác định số tiền mà Nguyễn Văn V đã chiếm đoạt khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản là 1.900.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn V đã thừa nhận hành vi cướp giật tài sản như đã nêu trên (BL 101; 111-116).

Đối với xe môtô biển kiểm soát 65E1-454.23 là của anh Nguyễn Thành T mua tại cửa hàng cầm đồ, mua bán xe Anh Thư do anh Nguyễn Hải Long làm chủ cơ sở, khi mua xe chỉ làm giấy mua bán với cửa hàng, không làm thủ tục sang tên đổi chủ. Khi anh T cho V mượn xe môtô biển kiểm soát 65E1-454.23 sử dụng không biết bị can làm phương tiện để phạm tội.

Cơ quan Công an đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 1101 và 1105 cùng ngày 10/9/2024: trả xe môtô môtô biển kiểm soát 65E1-454.23, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ đen bạc, số máy: JA39E1122987, số khung: RLHJA3916KY262270 cho người quản lý sử dụng là anh Nguyễn Thành T; trả lại tài sản cho bị hại Nguyễn Thị Kiều L gồm: 01 túi xách tay có hoa văn xám, trắng, đen (đã qua sử dụng); 01 ví da màu nâu (đã qua sử dụng); 01 thẻ căn cước và 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Thị Kiều L; 01 cây son (đã qua sử dụng); 01 hộp kem (đã qua sử dụng); 01 hộp phấn (đã qua sử dụng); tiền Việt Nam 380.000 đồng (BL 22-25).

Về trách nhiệm dân sự: gia đình của bị can Nguyễn Văn V đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Kiều L số tiền 6.520.000 đồng, chị Lang đã nhận đủ số tiền nên không có yêu cầu khác, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can (BL 123-124).

Tại cáo trạng số: 112/CT-VKS-CR ngày 08/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng đã truy tố Nguyễn Văn V về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận vào ngày 28/02/2024 đã sử dụng xe mô tô làm phương tiện và lợi dụng sơ hở của bà Nguyễn Thị Kiều L, áp sát giật lấy túi xách rồi nhanh chóng bỏ chạy cùng tài sản chiếm đoạt được của người bị hại. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng và những chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Cướp giật tài sản theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự và đề nghị mức án đối với bị cáo là từ 4 (bốn) năm đến 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù. Về vật chứng: đề nghị xử lý theo qui định.

Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo biết và nhận thức được cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn liều lĩnh xem thường pháp luật, cố tình phạm tội. Việc bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện để chiếm đoạt tài sản của bị hại, thủ đoạn này rất nguy hiểm. Bởi lẽ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Mà còn có khả năng dẫn đến tai nạn giao thông, hậu quả không thể lường được. Bị cáo còn 01 tiền án về tội Cướp giật tài sản, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này được xem là tái phạm nguy hiểm. Cho nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự về tội Cướp giật tài sản là hoàn toàn chính xác.

Thời gian qua trên địa bàn quận Cái Răng nói riêng và thành phố Cần Thơ nói chung, vấn nạn cướp giật tài sản xảy ra thường xuyên, mức độ ngày càng táo bạo, đã tạo ra tâm lý hoang mang lo sợ rất nhiều trong nhân dân. Bản thân bị cáo đang trong độ tuổi lao động không tìm công ăn việc làm ổn định và chí thú làm ăn, lại đua đòi học theo những thói hư tật xấu, để bản thân sa vào con đường phạm tội. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài, nhưng lại lười biếng, không muốn lao động nên đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác. Nếu không sớm phát hiện có thể sẽ xảy ra nhiều hậu quả đáng tiếc hơn. Ngoài tiền án chưa được xóa, được sử dụng làm tình tiết định khung thì nhân thân bị cáo còn có 02 tiền án đều về tội Cướp giật tài sản. Cho thấy bản chất của bị cáo là liều lĩnh, xem thường pháp luật, vẫn không cải sửa, không hối lỗi hành vi phạm tội trước đó của mình. Nên cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc để bị cáo có thời gian cải tạo bản thân tốt hơn và cũng nhằm răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Có như vậy mới góp phần giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân.

Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng có xem xét thái độ khai báo thành khẩn của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa; đến tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, phần không thu hồi được gia đình bị cáo đã khắc phục xong toàn bộ cho người bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cân nhắc xử phạt bị cáo mức án phù hợp.

Về tang vật: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng là đúng cần ghi nhận. Cụ thể đã trả lại:

- 01 (một) thẻ CCCD mang tên Nguyễn Thị Kiều L; 01 (một) thẻ BHYT Nguyễn Thị Kiều L; 01 (một) túi xách tay có hoa văn xám, trắng, đen (đã qua sử dụng); 01 (một) ví da màu nâu (đã qua sử dụng); 01 (một) cây son (đã qua sử dụng); 01 (một) hộp kem (đã qua sử dụng); 01 (một) hộp phấn (đã qua sử dụng); tiền Việt Nam 380.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Kiều L theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 12/9/2024 (BL 23).

- 01 (một) xe mô tô BKS 65E1-454.23, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ đen bạc, số máy: JA39E1122987, số khung: RLHJA3916KY262270 cho ông Nguyễn Thành T theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 12/9/2024 (BL 25).

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại không có giá trị theo Lệnh nhập kho vật chứng số 408/LNK-CQĐT (HS) ngày 10/9/2024 và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2024 gồm: (BL 26, 135)

- 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen giữa có đường viền màu trắng vàng (đã qua sử dụng);

- 01 (một) áo thun màu xanh phía trước có in chữ KENDA (đã qua sử dụng)

- 01 (một) quần vải màu vàng (đã qua sử dụng)

- 01 (một) đôi dép mủ quai ngang màu đen (đã qua sử dụng)

Về trách nhiệm dân sự: tang vật còn có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus và tiền Việt Nam bị cáo đã tiêu xài không thu hồi được. Nên người bị hại và gia đình bị cáo đã tự thỏa thuận bồi thường giá trị bằng tiền và bị hại Nguyễn Thị Kiều L đã nhận 6.520.000 đồng (Sáu triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) theo Biên nhận ngày 30/10/2024 (BL 124).

Xét đây là tự nguyện thỏa thuận của đương sự, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên chấp nhận. Các đương sự không yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Nguyễn Văn V phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ vào: điểm d, i khoản 2 Điều 171, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 5 (năm) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 29/02/2024.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 408/LNK-CQĐT (HS) ngày 10/9/2024 và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2024).

Ghi nhận việc:

- Bà Nguyễn Thị Kiều L đã nhận lại 01 (một) thẻ CCCD mang tên Nguyễn Thị Kiều L; 01 (một) thẻ BHYT Nguyễn Thị Kiều L; 01 (một) túi xách tay có hoa văn xám, trắng, đen (đã qua sử dụng); 01 (một) ví da màu nâu (đã qua sử dụng); 01 (một) cây son (đã qua sử dụng); 01 (một) hộp kem (đã qua sử dụng); 01 (một) hộp phấn (đã qua sử dụng); tiền Việt Nam 380.000 đồng (Ba trăm tám mươi nghìn đồng) theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 12/9/2024 (BL 23).

- Ông Nguyễn Thành T đã nhận lại 01 (một) xe mô tô BKS 65E1-454.23, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ đen bạc, số máy: JA39E1122987, số khung: RLHJA3916KY262270 theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 12/9/2024 (BL 25).

Căn cứ Lệnh nhập kho vật chứng số 408/LNK-CQĐT (HS) ngày 10/9/2024 và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2024 (BL 26, 135).

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen giữa có đường viền màu trắng vàng (đã qua sử dụng);

- 01 (một) áo thun màu xanh phía trước có in chữ KENDA (đã qua sử dụng)

- 01 (một) quần vải màu vàng (đã qua sử dụng)

- 01 (một) đôi dép mủ quai ngang màu đen (đã qua sử dụng)

Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bà Nguyễn Thị Kiều L đã nhận số tiền 6.520.000 đồng (Sáu triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm theo Biên nhận ngày 30/10/2024 (BL 124).

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú để xin xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ