- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc N. phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật trẻ em; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP TỈNH BT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2023/HS-ST. Ngày: 26-9-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP - TỈNH BT
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Lê Hưng Quang - Giáo viên hưu trí.
+ Bà Nguyễn Hoàng Bích Loan - PCT Hội nông dân.
-Thư ký phiên tòa: ông Phan Hoài Trọng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TP.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:
Phạm Ngọc N. (tên gọi khác: Quậy), sinh ngày 17-02-2008 tại tỉnh BT.
Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn Bình Thủy, xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình, tỉnh BT; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc Danh, sinh năm 1984 và bà Hồ Thị Thanh, sinh năm 1981; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Hoạt động nhân thân: Ngày 12-5-2023 bị Trưởng Công an xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình, BT xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi gây tổn hại sức khỏe cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Quyết định số 03/QĐ-XPVPHC.
Bị cáo tại ngoại, có mặt.
*Những người tham gia tố tụng:
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Ngọc N.: bà Hồ Thị Thanh, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Bình Thủy, xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình, BT.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Trường Duy – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh BT.
- Bị hại: Nguyễn Viết Gia T., sinh ngày 10-01-2008;
Đại diện hợp pháp của bị hại: ông Nguyễn Thắng, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Hội, sinh năm 1975 (là cha mẹ ruột); cùng địa chỉ: khu phố Phú Thủy, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện TP, BT.
- Người làm chứng:
+ Nguyễn Văn T1, sinh ngày 10-10-2007;
Đại diện hợp pháp: bà Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1975; địa chỉ: thôn Hội Tâm, xã Hòa Minh, huyện TP, BT.
+ Trần Đức P, sinh ngày 02-9-2008;
Đại diện hợp pháp: bà Trần Thị Thanh Hiền; địa chỉ: thôn Lâm Lộc 01, xã Hòa Minh, huyện TP, BT.
Tất cả đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T1 (sinh ngày 10-9-2008) nhìn thấy trên facebook có thông tin nhóm của Nguyễn Văn Lâm (sinh ngày 21-9-2007) hẹn đánh nhau với một nhóm thanh niên khu phố Phú Tân, thị trấn Phan Rí Cửa (xã Hòa Phú cũ) tại khu vực Công viên mới thuộc khu phố Phú Tân, thị trấn Phan Rí Cửa, nên rủ Trần Đức P (sinh ngày 02-9-2008) và Phạm Ngọc N. (sinh ngày 17-02-2008) đi xem đánh nhau. Vào khoảng 19 giờ, ngày 22-3-2023, Tài sử dụng xe mô tô hiệu Drem (không rõ biển số) đi từ nhà ở thôn Hội Tâm, xã Hòa Minh đến thôn Lâm Lộc 01, xã Hòa Minh chở Trần Đức P, cả hai tiếp tục đi đến nhà của Phạm Ngọc N. ở thôn Bình Thủy, xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình. Tại đây, Tài nói Nghĩa cầm theo dao để phòng thân, Nghĩa lấy 01 cây dao dài khoảng 70cm, lưỡi rộng 05cm, mũi nhọn, bọc trong người và cả ba cùng nhau đi đến khu vực Bia căm thù thuộc khu phố Giang Hải 1, thị trấn Phan Rí Cửa thì gặp Nguyễn Văn Lâm, Lâm hỏi đi đâu thì cả ba người nói đi xem nhóm của Lâm đánh nhau với các đối tượng bên Hòa Phú, Lâm có yêu cầu cả ba đi về nhưng cả ba không nghe và Tài tiếp tục điều khiển xe chở theo Phi, Nghĩa đến quán nước tại khu vực hai nhóm đối tượng hẹn đánh nhau, ngồi uống nước đợi xem.
Đến khoảng 21 giờ, nhóm của Nguyễn Văn Lâm gồm có Trần Nguyễn Đăng Khôi cầm theo dao tự tạo dài hơn 30cm, mặt lưỡi rộng 03cm, mũi nhọn; Nguyễn Duy Đan cầm theo dao tự tạo dài 40cm mặt lưỡi rộng 03cm, mũi nhọn; Nguyễn Văn Duy cầm theo 01 con dao dài 76cm mặt lưỡi rộng 03cm, mũi nhọn cùng với Lâm và một số đối tượng khác điều khiển xe mô tô đến khu vực đã hẹn. Lúc này, Nguyễn Viết Gia T. cùng nhóm bạn gồm Lê Quý Đông, Đinh Thái Kiệt, Lê Văn Lại, Trần Thanh Tín, Võ Văn Chiến, Đặng Huỳnh Duy đang ngồi uống nước tại quán nước Suna cách nơi Tài, Phi, Nghĩa đang ngồi khoảng 20m. Nguyễn Văn Duy xác định trong nhóm bạn của Nguyễn Viết Gia T. có người có đặc điểm giống như người cần đánh nên cầm hung khí xông vào chém trúng lưng Lê Quý Đông gây xây sát nhẹ nên nhóm của Thiện bỏ chạy tán loạn. Phạm Ngọc N. nhìn thấy Thiện đang chạy ngang qua bàn nước mình đang ngồi nên Nghĩa cầm dao ở tay phải rượt đuổi theo Thiện vào khu vực có bụi cây. Do trời tối nên Thiện bị té ngã trong tư thế nằm ngữa thì bị Nghĩa dùng dao chém nhiều nhát vào cơ thể Thiện, Thiện xin tha nhưng Nghĩa không dừng cho đến khi Tài và Phi chạy đến can ngăn. Sau đó, Tài điều khiển xe mô tô chở Nghĩa và Phi về nhà Trần Văn Minh (sinh năm 2006) tại thôn Bình Lễ, xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình nhờ Minh cất giấu giùm con dao. Ngày 23-3-2023, Trần Văn Minh đã giao nộp cho Công an thị trấn Phan Rí Cửa con dao mà Nghĩa dùng chém Thiện, Nguyễn Văn Duy giao nộp 01 con dao dài 76cm mặt lưỡi rộng 03cm, mũi nhọn.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 311/2022/KLTTCT-TTPYBT ngày 22-5-2022 của Trung tâm giám định pháp y – Sở y tế BT, kết luận:
- Vết thương chấn thương mặt sau khuỷu tay phải gẫy mỏm khuỷu, đứt gãy cơ tam đầu đã được phẫu thuật điều trị, hiện hạn chế gập, duỗi cánh, cẳng tay phải, để lại sẹo vết thương trùng với sẹo vết mỗ, kích thước (8,5 x 0,5)cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 10% + 3%;
- Vết thương mặt lòng cổ bàn tay phải đứt gân gấp cổ tay trụ, đứt động mạch trụ, thần kinh trụ phải đã được phẫu thuật điều trị, hiện hạn chế co duỗi cổ, bàn, ngón tay phải, để lại sẹo vết thương trùng với vết mổ, kích thước (8,2 x 0,3)cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 4% + 21% + 2%;
- Vết thương phần mềm mặt lòng bên ngoài bàn chân trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành, kích thước (5,5 x 0,3)cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 2%;
- Vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt sau đùi trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành, kích thước (12 x 01)cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 3%;
- Vết thương phần mềm mặt trước cẳng chân trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành, kích thước (05 x 0,6)cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 3%;
- Vết thương - chấn thương 1/3 trên mặt trước trong cẳng chân trái, mẻ 1/3 trên xương chày trái đã được điều trị, hiện ổn định, để lại sẹo kích thước (12 x 0,8)cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 2% + 3%;
- Vết thương chấn thương 1/3 trên mặt ngoài cẳng chân trái, mẻ 1/3 trên xương chày phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành, kích thước (7,5 x 0,7)cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 2% + 3%;
- Vết thương chấn thương 1/3 giữa mặt trước ngoài cẳng chân phải, gãy 1/3 giữa xương mác phải đã được điều trị, hiện không thấy gãy 1/3 xương mác trên phim chụp Xquang, kích thước (6,5 x 0,5)cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 2%;
- Vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt ngoài cẳng chân phải, đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành, kích thước (8,5 x 01)cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 3%;
- Vết thương phần mềm mặt ngoài cẳng, cổ chân phải, đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành, kích thước (11 x 0,8)cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 3%;
- Vết thương phần mềm gan bàn chân phải, đã được điều trị, hiện vết thương đang lành, kích thước (12,5 x 03)cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 3%;
- Vết thương mặt mu bàn chân phải đứt gân duỗi ngón 4, 5 đã được điều trị, hiện để lại sẹo vết thương, kích thước (9,5 x 01)cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể 3%;
- Gãy mắt cá ngoài chân phải, gãy xương bàn III, IV bàn chân phải, mỏm cụt 1/3 giữa đốt gần ngón 5 bàn chân phải không có trong giấy chứng nhận thương tích, không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Viết Gia T. do thương tích gây nên là 53%. Các vết thương, chấn thương do vật sắc gây ra; có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương; không đủ cơ sở xác định các vết thương trên cơ thể của Nguyễn Viết Gia T. là cùng một hung khí gây ra.
Về tang, vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 cây dao dài khoảng 70cm, lưỡi rộng 05cm, mũi nhọn của Phạm Ngọc N. và 01 con dao dài 76cm mặt lưỡi rộng 03cm, mũi nhọn của Nguyễn Văn Duy, đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện TP.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe và các chi phí hợp lý khác với tổng số tiền là 72.975.254 đồng (bảy mươi hai triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm năm mươi bốn đồng), gia đình bị cáo Phạm Ngọc N. đã bồi thường số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) nên bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại.
Đối với Nguyễn Văn T1, Trần Đức P đi chung với Phạm Ngọc N. nhưng không có sự bàn bạc, thống nhất ý chí để cùng gây thương tích cho Thiện; Trần Nguyễn Đăng Khôi, Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Duy Đan, Nguyễn Văn Lâm và một số đối tượng khác không rõ lai lịch, chuẩn bị hung khí đi tìm người có tên Tính để đánh trả thù nhưng chưa gây thương tích cho ai nên không xem xét xử lý.
Tại Bản Cáo trạng số 118/CT-VKSTP-HS, ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc N. về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm a, i, c khoản 1 Điều 134 và định khung hình phạt tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
+ Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 91 và khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Phạm Ngọc N. từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”;
+ Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật dân sự năm 2015; công nhận sự thỏa thuận giữa đại diện hợp pháp của bị hại và đại diện hợp pháp của bị cáo, bà Hồ Thị Thanh phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Nguyễn Viết Gia T. số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- Xử lý tang, vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP đã truy tố và xác định việc truy tố bị cáo là đúng, không oan; bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại: Đã nhận bồi thường thiệt hại về sức khỏe số tiền 20.000.000 đồng, yêu cầu mẹ bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng); về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã làm rõ: Xuất phát từ việc đi xem hai nhóm hẹn đánh nhau tại khu vực Công viên mới ở khu phố Phú Tân, thị trấn Phan Rí Cửa. Bị cáo Phạm Ngọc N. mang theo một con dao dài khoảng 70cm, lưỡi rộng 05cm, mũi nhọn nhằm để phòng thân. Vào khoảng 21 giờ, ngày 22-3-2023, bị cáo cùng Tài và Phi đang ngồi uống nước, bị cáo để con dao mang theo dưới bàn thì cùng lúc này hai nhóm thanh niên xông vào nhau, bị cáo nhìn thấy bị hại Nguyễn Viết Gia T. chạy ngang qua bàn nên đã cầm theo dao rượt đuổi theo bị hại vào khu vực có bụi cây. Do trời tối nên bị hại bị té ngã trong tư thế nằm ngữa thì bị cáo dùng dao chém nhiều nhát vào cơ thể bị hại, bị hại xin tha nhưng bị cáo không dừng cho đến khi Tài và Phi chạy đến can ngăn. Bị cáo Phạm Ngọc N. không có mâu thuẫn gì với bị hại Nguyễn Viết Gia T. (sinh ngày 10-01-2008) nhưng đã sử dụng hung khí là con dao sắc bén, gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 53% (tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 311/KLTTCT-TTPYBT, ngày 22-5-2023).
Như vậy, có đủ cơ sở để truy tố bị cáo Phạm Ngọc N. về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm”, “Đối với người dưới 16 tuổi” và “có tính chất côn đồ” theo quy định tại các điểm a, i, c khoản 1 Điều 134 và định khung hình phạt tăng nặng theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo sinh ngày 17-02-2008, tính đến thời điểm phạm tội là 15 tuổi 01 tháng 05 ngày, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm này. Bị cáo nhận biết hành vi sử dụng dao xâm phạm đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do xem thường pháp luật, sức khỏe, tính mạng của người khác nên đã cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, góp phần làm gia tăng tình trạng bạo lực trong bộ phận thanh thiếu niên và gây hoang mang lo lắng trong cộng đồng dân cư. Do đó, cần thiết phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách lý bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo để trở thành công dân tốt đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù bị hại van xin nhưng bị cáo không dừng mà chém liên tục nên xác định hành vi của bị cáo cố ý phạm tội đến cùng, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo và đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại về sức khỏe cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Khi phạm tội, bị cáo chưa đủ 16 tuổi nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo. Bị cáo tuổi còn rất nhỏ nhưng đã thể hiện hành vi hung hăn, côn đồ và tàn bạo. Hơn nữa, sau khi gây thương tích cho bị hại thì vào ngày 12-5-2023 bị Trưởng Công an xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình, BT xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi gây tổn hại sức khỏe cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Quyết định số 03/QĐ-XPVPHC, nên đây là điều mà Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
Về tang, vật chứng trong vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao dài khoảng 70cm, lưỡi rộng 05cm, mũi nhọn của Phạm Ngọc N. và 01 con dao dài 76cm mặt lưỡi rộng 03cm, mũi nhọn của Nguyễn Văn Duy, là những hung khí mà cơ quan điều tra đã thu giữ được trong quá trình điều tra vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa đại diện hợp pháp của bị hại và đại diện hợp pháp của bị cáo, bà Hồ Thị Thanh phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Nguyễn Viết Gia T. số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý tang vật chứng và trách nhiệm dân sự là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Lời bào chữa cho bị cáo của Trợ giúp viên pháp lý là có cơ sở, tuy nhiên hành vi của bị cáo rất hung hăn, tàn bạo, bị cáo còn nhỏ tuổi nhưng đã thể hiện bản tính côn đồ vì vậy cần phải xử lý bị cáo một mức án nhất định để đủ thời gian giáo dục, cảm hóa bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 54 để xét xử bị cáo mức án thấp hơn tại khung hình phạt liền kề.
Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 16 tuổi nên căn cứ vào Luật trẻ em năm 2016 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án, miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Phạm Ngọc N.. Bà Hồ Thị Thanh phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc N. phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38 và khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc N. 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
- Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật dân sự năm 2015;
Công nhận sự thỏa thuận giữa đại diện hợp pháp của bị hại và đại diện hợp pháp của bị cáo. Bà Hồ Thị Thanh phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Nguyễn Viết Gia T. số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người bị hại, nếu người phải thi hành chưa thi hành xong số tiền phải thi hành án thì còn phải chịu thêm khoản lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao dài khoảng 70cm, lưỡi rộng 05cm, mũi nhọn của Phạm Ngọc N. và 01 con dao dài 76cm mặt lưỡi rộng 03cm, mũi nhọn của Nguyễn Văn Duy. (Tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TP, ngày 20-9-2023).
- Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm c khoản 1 Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Phạm Ngọc N.. Buộc bà Hồ Thị Thanh phải nộp 1.000.000 đồng (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26-9-2023).
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh BT; -VKSND huyện TP; -CA huyện TP; -THADS huyện TP; -Sở tư pháp tỉnh BT; -Bị cáo;đdhp, NBC; -Bị hại;đdhp; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Huyền |