vanban.org

Bản án 113/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Lò Thị D được ly hôn anh Vi Văn D1.

Về con chung: Giao hai con chung là Vi Khánh H, sinh ngày 05-12-2013 và Vi Khánh T, sinh ngày 20-5-2017 cho anh Vi Văn D1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Chị Lò Thị D phải cấp dưỡng tiền nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng /1 tháng (hai … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị D - Vi Văn D1"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Lò Thị D được ly hôn anh Vi Văn D1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 22-9-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thao

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hồng

Ông Trương Xuân Vũ

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên tham gia phiên tòa: Ông Lý Văn Tầm – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 207/2023/TLST-HNGĐ ngày 04-8-2023 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31-8-2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 84/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13-9-2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lò Thị D, sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

- Bị đơn: Anh Vi Văn D1, sinh năm 1971

Địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

Các đương sự đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lò Thị D trình bày:

Chị và anh Vi Văn D1 tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 29-5-2013 tại UBND xã A, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Chị D xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh D1.

Về con chung: Chị và anh D1 có hai con chung là Vi Khánh H, sinh ngày 05-12-2013 và Vi Khánh T, sinh ngày 20-5-2017 hiện đang được anh D1 nuôi dưỡng. Ly hôn chị D đề nghị để anh D1 trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và chị D sẽ cấp dưỡng tiền nuôi mỗi con là 500.000 đồng/1 tháng.

Về chia tài sản chung, nợ chung : Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn là anh Vi Văn D1 trình bày: Anh và chị Lò Thị D kết hôn với nhau năm 2013 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Quá trình vợ chồng chung sống không có mâu thuẫn gì lớn mà chủ yếu do chị D đi làm ăn xa rồi sau đó yêu cầu ly hôn với anh. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị D có hai con chung là Vi Khánh H, sinh ngày 05-12-2013 và Vi Khánh T, sinh ngày 20-5-2017 hiện đang được anh nuôi dưỡng. Ly hôn anh D1 đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu chị D phải cấp dưỡng tiền nuôi mỗi con là 1.500.000 đồng/1 tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh D1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

+ Về hôn nhân: Chị Lò Thị D được ly hôn anh Vi Văn D1.

+ Về con chung: Giao hai con chung là Vi Khánh H, sinh ngày 05-12-2013 và Vi Khánh T, sinh ngày 20-5-2017 cho anh Vi Văn D1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Chị Lò Thị D phải cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng/1 tháng, thời gian cấp dưỡng từ khi tuyên án sơ thẩm cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi.

+ Về án phí: Chị D phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án phí về cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn anh Vi Văn D1 có nơi cư trú tại xã A, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại phiên tòa, chị D vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh D1 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về hôn nhân: Chị Lò Thị D và anh Vi Văn D1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái ngày 29-5-2013 là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của đương sự và tài liệu có trong hồ sơ cho thấy, sau khi kết hôn chị D và anh D1 chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu mẫu, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị D đi làm ăn xa dẫn đến vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân không còn quan tâm đến nhau. Chị D xác định tình cảm vợ chồng đã hết và đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn, anh D1 không đồng ý ly hôn nhưng không có giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh D1 đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D, cho chị D được ly hôn anh D1.

Về con chung: Chị D và anh D1 có hai chung là Vi Khánh H, sinh ngày 05-12-2013 và Vi Khánh T, sinh ngày 20-5-2017 hiện đang được anh D1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D và anh D1 đều có ý kiến thống nhất anh D1 là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung khi ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện chị D và anh D1 đã ly thân, hai con đều đang được anh D1 trực tiếp nuôi dưỡng và cháu Vi Khánh H có nguyện vọng được ở với bố. Do đó, để đảm bảo quyền, lợi ích, nguyện vọng và đảm bảo sự ổn định cuộc sống của các con nên giao hai con cho anh D1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh D1 yêu cầu chị D phải cấp dưỡng tiền nuôi mỗi con là 1.500.000 đồng/1 tháng. Việc anh D1 yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, việc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con ngoài căn cứ vào nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng thì cũng cần căn cứ vào thu nhập, khả năng thực thế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Xét thấy mức cấp dưỡng mỗi con là 1.000.000 đồng/1 tháng là phù hợp với thu nhập chị Doan và phù hợp với chi phí sinh hoạt của con nên được chấp nhận. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị D, anh D1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị D phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chị Lò Thị D được ly hôn anh Vi Văn D1.

2. Về con chung: Giao hai con chung là Vi Khánh H, sinh ngày 05-12-2013 và Vi Khánh T, sinh ngày 20-5-2017 cho anh Vi Văn D1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Chị Lò Thị D phải cấp dưỡng tiền nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng /1 tháng (hai con là 2.000.000 đồng/1 tháng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa khi thi hành án xong thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Chị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí:

- Chị Lò Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: AA/2022/0001050 ngày 04-8-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị D đã nộp đủ tiền án phí về ly hôn.

- Chị D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) đồng tiền án phí dân sự về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ