vanban.org

Bản án 113/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị Hoàng O và anh Nguyễn Minh T là vợ chồng.

Về con chung: chị O, anh T không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: chị O, anh T không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị Hoàng O và anh Nguyễn Minh T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20-12-2023.
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Khắc Quỳnh;

2. Ông Lê Văn Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 355/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm 1978.

Địa chỉ: số nhà 207A, Hẻm 22 đường N, khu phố L, phường B, thị xã H, tỉnh T, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1971.

Nơi đăng ký nhận khẩu thườn trú: 41/4D, ấp C, xã T, huyện H, Thành phố H.

Nơi cư trú hiện nay: số nhà 207A, Hẻm 22 đường N, khu phố L, phường B, thị xã H, tỉnh T – là nguyên đơn, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoàng O trình bày:

Chị và anh Nguyễn Minh T chung sống với nhau vào năm 1998, không đăng ký kết hôn. Hai người sống chung tự nguyện, nhưng do bận làm ăn do đó không đi đăng ký kết hôn. Sau khi sống chung hai vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó đến khoảng năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn. Hai người đã ly thân từ năm 2001 cho đến nay, nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T. Chị và anh T có một người con chung tên Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 2000, con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.Về tài sản chung, nợ chung, chị và anh T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về con chung: anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 2000, con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: chị và anh T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông anh Nguyễn Minh T trình bày:

Anh thống nhất theo lời trình bày của chị O về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung, nợ chung anh không trình bày bổ sung. Nay chị O yêu cầu ly hôn anh đồng ý ly hôn với chị O.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận chị O, anh T là vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không giải quyết.

Chị O phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: chị Nguyễn Thị Hoàng O, anh Nguyễn Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Hoàng O và anh Nguyễn Minh T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1998, nhưng không đăng ký kết hôn. Do không có đăng ký kết hôn nên việc chị O, anh T sống chung là vi phạm quy định tại Điều 9, khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình do đó giữa chị O, anh T không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nay chị O yêu cầu ly hôn với anh T, anh T cũng đồng ý ly hôn, tuy nhiên không thể công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị do hôn nhân của anh chị không hợp pháp mà cần căn cứ vào Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình không công nhận chị O, anh T là vợ chồng.

Về con chung: chị O, anh T có 01 con chung là Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 2000, hiện con chung của anh chị đã thành niên tự lao động sinh sống được chị O, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: chị O, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết vấn đề này.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 14, 15, 53, 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thị Hoàng O và anh Nguyễn Minh T là vợ chồng.

2. Về con chung: chị O, anh T không yêu cầu giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: chị O, anh T không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị O phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị O đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0021976 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh T, chị O đã nộp xong án phí.

Án dân sự sơ thẩm xử công khai báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ