- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị H và Phạm Văn T"
- Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 113/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27 -12 - 2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Hùng Hạnh.
Ông Phạm Xuân Trường.
-Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Mừng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuất - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 181/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H; sinh năm 1993; địa chỉ: xóm L, xã Gi, huyện Gi, tỉnh N; “vắng mặt”.
Bị đơn: Anh Phạm Văn T; sinh năm 1985; địa chỉ: xóm L, xã Gi, huyện Gi, tỉnh N; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10-10-2023, bản tự khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày: Chị và anh Phạm Văn T tự nguyện tìm hiểu đã được Ủy ban nhân dân xã Gi, huyện Gi, tỉnh N cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14-02-2014. Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng bốn năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh T không quan tâm đến gia đình, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022. Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Gia B, sinh ngày 07-01-2015 và Phạm Gia H, sinh ngày 10-3-2018; cháu B đang ở với bố, cháu H ở với mẹ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn T; chị nhận nuôi cháu H, còn anh T nuôi cháu B hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau, không yêu cầu cấp dưỡng; không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản.
Tại biên bản làm việc ngày 03-11-2023, bà Trần Thị H trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Phạm Văn T; anh T và chị H kết hôn vào năm 2014, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm. Vợ chồng anh T, chị H có 02 con chung là Phạm Gia B, sinh ngày 07-01-2015 và Phạm Gia H, sinh ngày 10-3-2018; hiện cháu H đang ở với mẹ, cháu Bảo ở với gia đình nhà nội. Nay chị H có đơn ly hôn anh T, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 30-10-2023 cháu Phạm Gia B có nguyện vọng ở với bố.
Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 03-11-2023, đại diện chính quyền địa phương cùng đoàn thể xã Gi, huyện Gi, tỉnh N cung cấp: Anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị H được Ủy ban nhân dân xã Gi cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14-02-2014 và có 02 con chung là Phạm Gia B và Phạm Gia H. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là do không hợp nhau; hiện không vướng mắc gì về kinh tế đối với địa phương. Nay chị H có đơn ly hôn anh T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Phạm Văn T. Về con chung: giao chị Phạm Thị H nuôi dưỡng con chung là Phạm Gia H sinh ngày 10-3-2018, giao anh Phạm Văn T nuôi dưỡng con chung là Phạm Gia B sinh ngày 07-01-2015; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về án phí: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 338 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T tự nguyện tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Gi, huyện Gi, tỉnh N vào ngày 14-02-2014 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, do bất đồng trong quan điểm sống, anh T không quan tâm đến gia đình nên đã xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, nếu kéo dài cũng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, chấp nhận nguyện vọng của chị H xin ly hôn anh T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Phạm Gia B, sinh ngày 07-01-2015 và Phạm Gia H, sinh ngày 10-3-2018. Căn cứ nguyện vọng của đương sự, con chung và để đảm bảo sự phát triển tốt nhất của con chung; vì vậy nên giao chị Phạm Thị H nuôi dưỡng cháu H, giao anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu B; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm; chị H, anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T.
2. Về con chung: Giao chị Phạm Thị H nuôi dưỡng con chung Phạm Gia H, sinh ngày 10-3-2018; giao anh Phạm Văn T nuôi bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng. Chị H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn tại biên lai thu số 0001530 ngày 16-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy; nay đối trừ, chị H đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Giao Thủy; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy; - UBND xã Gi; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |